19/06/2014 08:22:01 AM
Giai thoại về Nhữ Bá Sĩ (1788 - 1867)

Nhữ Bá Sĩ người làng Cát Xuyên, nay thuộc xã Hoàng Cát, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Tuy con đường thi cử, quan chức của Nhữ Bá Sĩ lận đận, nhưng ông đã lập nghiệp bằng cách sử dụng kiến thức uyên bác của mình để dạy học và sáng tác, đào tạo cho xã hội một số người tài và đóng góp vào kho tàng văn hóa Việt Nam những tác phẩm giá trị.

Các bài văn, thơ của Nhữ Bá Sĩ đều toát lên lòng yêu xứ sở, đất nước, ý thức tự hào về truyền thống quê hương, dân tộc và cả nỗi niềm trăn trở của tác giả trước nạn xâm lược của phương Tây.

Mới 15 tuổi đã làm thầy giáo

Nhữ Bá Sĩ thông minh từ nhỏ. Năm 11 tuổi, ông học với Hương cống Đặng Văn Chính trong huyện. 14 tuổi, học trường tỉnh với ông Đốc học Phan Bảo Định, được xếp loại giỏi. Năm 15 tuổi, ông vừa học vừa làm thầy giáo tại nhà, dạy dỗ hai em ruột là Nhữ Đình An và Nhữ Trọng Thực, sau này đều thi đỗ cử nhân. Riêng bản thân ông Nhữ, tuy học giỏi, nhưng thi cử không thật đạt ý nguyện. Trong khoa thi Hương năm Kỉ Mão, triều Gia Long (1819), ông và người em thứ hai Nhữ Đình An cùng dự thi, người em thì đỗ cử nhân, còn ông chỉ đỗ sinh đồ (tú tài). Sang khoa thi năm Minh Mạng thứ 2 (1821), đến tuổi 37, ông mới đỗ cử nhân, song thi Hội chỉ được tam tường (trên cử nhân, dưới tiến sĩ, ngang phó bảng sau này).

Cuộc đời quan trường của Nhữ Bá Sĩ cũng đầy gập ghềnh, chông gai. Sau khi thi đỗ, ông được bổ chức Tri huyện, rồi thăng Hình bộ viên ngoại lang Lang trung. Nhưng trong một chuyến đi thanh tra thuế đường ở Quảng Ngãi, do kẻ khác vu cáo, ông bị cách chức tống giam 4 năm, sau được tha, nhưng phải đi phục dịch cho các quan triều sang Quảng Đông, Trung Quốc. Trở về ông Nhữ được bổ chức Giáo thụ (phụ trách giáo dục một huyện), rồi Đốc học (phụ trách giáo dục một tỉnh). Đến năm 1839, ông cáo bệnh về nhà dạy học. Nhưng sau đó 14 năm, có chiếu gọi, ông bất đắc dĩ phải ra nhận lại chức quan. Hai năm sau, ông xin nghỉ hẳn, về quê mở trường dạy học và viết sách.

Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, Nhữ Bá Sĩ cùng một số quan ở Thanh Hóa dâng sớ tâu vua phải chống giặc Tây dương, không thể chủ hòa. Năm Giáp Tí (1864) ông lại dâng lên vua Tự Đức tờ biểu tường trình về sách lược đánh giặc Pháp (Tĩnh Dương tam sách), dài đến mấy vạn chữ! Tự Đức đã phê vào tờ tấu: "Người này tuổi đã cao rồi, đáng tiếc thay!". Năm 78 tuổi, ông Nhữ còn nằm võng, cho người khiêng vào Nghệ An để cùng với văn thân tỉnh bạn bàn cách chống Pháp, nhưng việc chưa thành thì ông mất.

Kiều Thu Hoạch (Giai thoại Văn học Việt Nam)

 Ý kiến của bạn |   Gửi tin qua E-mail |   Bản để in
Tin liên quan
Các tin khác
  • Mơ bến Đào nguyên (25/05/2018)
  • Cần thêm nhiều ý tưởng “nuôi” sáng tác văn học (26/07/2017)
  • "Thời xa vắng" - Hành trình từ văn học đến điện ảnh (19/07/2017)
  • Say men rượu men tình (28/06/2017)
  • Viết để trả nợ cho đồng đội, quê hương (21/06/2017)
  • Nghệ thuật ngâm thơ: Gần gũi tâm hồn người Việt (07/06/2017)
  • Chữ viết tay của nhà văn - hình bóng thời đại đã mất? (31/05/2017)
  • Tấm bia và bài thơ của liệt sĩ Hoàng Lộc (24/05/2017)
  • Xuân Diệu thăm nhà Phạm Hổ (10/05/2017)
  • Tên thật và bút danh (26/04/2017)

Video

Khai mạc Trại hè Việt Nam 2018
Câu đối viếng đám ma*
Hoa sen trong giếng ngọc
Giai thoại về Hàn Mặc Tử
Lê Quí Đôn "thần đồng trí nhớ"
Giai thoại về Hồ Xuân Hương
Lương Thế Vinh "Thần đồng học mà chơi"
Mơ bến Đào nguyên
Cần thêm nhiều ý tưởng “nuôi” sáng tác văn học
"Thời xa vắng" - Hành trình từ văn học đến điện ảnh
Say men rượu men tình
Viết để trả nợ cho đồng đội, quê hương
Nghệ thuật ngâm thơ: Gần gũi tâm hồn người Việt
Thắng cảnh bạn thích nhất?
Vịnh Hạ Long
Phong Nha - kẻ Bàng
Cát Bà
Đảo Phú Quốc
Fanxipang