04/07/2018 09:17:00 AM
Sương Nguyệt Anh, nữ sĩ nhà báo đầu tiên của Việt Nam

Trong chặng đường đầu của báo chí quốc ngữ Việt Nam, phụ nữ tham gia chưa nhiều nhưng có vai trò không nhỏ. Lịch sử từng trang trọng ghi nhận tên tuổi, sự nghiệp một nữ chủ bút nổi tiếng - Nhà thơ Sương Nguyệt Anh.

 

Từ nhà văn, nhà thơ với chí khí hơn người…

Bà Sương Nguyệt Anh tên thật là Nguyễn Thị Khuê sinh ngày 1/2/1864, tại xã An Đức, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, là con gái thứ tư của nhà thơ, nhà yêu nước Nguyễn Đình Chiểu. Ngoài bút danh Sương Nguyệt Anh, bà còn ký nhiều bút danh khác như Xuân Khuê, Nguyệt Nga, Nguyệt Anh...

Theo tài liệu của các nhà nghiên cứu, Sương Nguyệt Anh từ nhỏ đã nổi tiếng thông minh. Vì gia đình đông người, cha lại bị mù nên bà vừa phải chăm lo việc gia đình, vừa giúp đỡ cha làm thuốc. Ban ngày, bà thường xem cha dạy học và chữa bệnh, ban đêm bà đọc sách, tập làm thơ. Người chị kế Nguyệt Anh là Nguyễn Thị Kim Xuyến cũng học giỏi, hay chữ và có tài làm thơ từ nhỏ. Hai chị em Nguyệt Anh thường được cha bày cho cách đọc sách và thơ phú. Ngoài ra, bà còn là người có nhan sắc nên được nhiều bậc phong lưu trí thức mến mộ.

Năm 1888,  khi Sương Nguyệt Anh 24 tuổi thì cha mất. Tri phủ Ba Tường đến hỏi bà làm vợ không được, nên mang lòng oán hận, tìm cách hãm hại. Để tránh họa, bà cùng gia đình người anh là Nguyễn Đình Chúc chuyển sang Cái Nứa (Mỹ Tho) rồi dời về Rạch Miễu ở nhờ nhà ông nghè Trương Văn Mân. Ở đây, bà kết duyên với một Phó Tổng sở tại góa vợ tên Nguyễn Công Tính và sinh được một con gái. Năm con gái được 2 tuổi thì chồng bà mất. Là người có học, hòa nhã, nên nhiều người còn nhăm nhe mong bà tục huyền. Bà thêm chữ Sương ở tên hiệu, để tỏ rõ chí thờ chồng nuôi con của mình (Sương trong nghĩa “sương phụ” là người đàn bà góa). Và khi bà nhận làm chủ bút, thì đây cũng là bút danh: Sương Nguyệt Anh.

Sương Nguyệt Anh luôn làm thơ, nhắc nhở mọi người hãy nhớ đến cảnh nhà tan, nước mất, phải có ý thức sống sao không hổ với một đất nước có truyền thống đánh giặc giữ nước hào hùng... Nhiều lúc bà đã toan an bài với số phận, không màng tới thế sự, nhưng tài năng, nhiệt huyết của bản thân cám cảnh cùng những mảnh đời đau thương mà sôi động của người dân lại chẳng thể làm bà dửng dưng.

Bà làm thơ bằng cả chữ Hán, chữ Nôm và quốc ngữ. Giọng thơ cổ kính nhưng tha thiết, tràn trề nỗi niềm nhân thế trong sự cảm nhận sâu sắc, có phần bi phẫn mà ngang tàng:

Bể ái sóng ân còn lắm lúc,

Mây ngàn hạc nội biết là nơi.

Một dây oan trái vay rồi trả,

Mấy cuộc tang thương dễ đổi dời.

(Họa thơ ông Phủ Học)

Nhìn cảnh đời ly tán, non nước điêu linh, Sương Nguyệt Anh có những vần thơ xót xa nhưng không yếu ớt, mà cứng cỏi, thể hiện cái nhìn tình máu thịt của một con người trong cộng đồng, cái nghĩa khí và trách nhiệm của kẻ sĩ thời loạn giống như cha bà khi xưa:

Phong cảnh mặc dầu chia đất khác,

Nắng mưa đâu cũng đội trời chung.

Quê người tạm gởi nhành dương liễu,

Đường hoạn xin tròn phận kiếm cung.

(Tiễn ông Trần Khải Sơ từ Bến Tre đổi về Sa Đéc)

Sương Nguyệt Anh còn nhiều bài thơ chữ Hán và chữ Nôm khác (như Thưởng bạch mai, Điếu Khuất Nguyên, Ngày Đoan dương) và một số bài vè (như Vè tiểu yêu...). Những bài thơ của bà luôn thể hiện cái nhìn sâu rộng, nồng nàn, chân thật và sự cảm nhận tinh tế, khiến thơ bà mang một nét riêng dễ mến và chinh phục người đọc.

Lớn lên giữa cảnh đất nước đang rên xiết dưới gót quân thù, bên người cha – nhà thơ, chí sĩ tài năng, giàu khí tiết, suốt đời cùng ngọn bút không mệt mỏi đấu tranh vì nhân đạo, vì tự do và người mẹ hiền thục, tảo tần sớm hôm, bà sớm được thừa hưởng chí cha, đức mẹ, có bản lĩnh hơn người và luôn nuôi ước vọng tạo nên “một sự nghiệp”.

Những năm đầu thế kỷ XX, khi cụ Phan Bội Châu phát động phong trào Đông Du, bà nhiệt tình hưởng ứng, bán cả đất vườn lấy tiền gửi giúp du học sinh. Phong trào bị đàn áp rồi thất bại, bà vẫn không nản lòng, tiếp tục tìm mọi cách góp sức mình vào công cuộc cứu nước...

… Đến chủ bút tài hoa và trí tuệ

Năm 1917, Sương Nguyệt Anh được một nhóm chí sĩ ái quốc mời làm chủ bút tờ báo “Nữ giới chung” (nghĩa là “Tiếng chuông của nữ giới”) - tờ báo đầu tiên của phụ nữ Việt Nam. "Nữ giới chung" có chủ trương nâng cao dân trí, khuyến khích công – nông - thương và nhất là đề cao vai trò phụ nữ trong xã hội.

“Nữ giới chung” là tờ báo đầu tiên dành cho những vấn đề của nữ giới ở Việt Nam, cũng là tờ báo đầu tiên do một người đàn bà Việt Nam làm chủ bút và người đó là nữ sĩ Sương Nguyệt Anh. Tòa soạn báo đặt tại số nhà 155 đường Taberd, Sài Gòn (nay là đường Nguyễn Du, quận 1, TP Hồ Chí Minh). Ngày 1/2/1918, tờ báo ra số đầu tiên. Trong số mở đầu, bà chủ bút nói rõ mục đích của tờ báo là truyền bá chữ Quốc ngữ, nâng cao luân lý, dạy cách sống hằng ngày, chú trọng đến thương mại và tiểu công nghệ, tạo sự tiếp xúc giữa những con người với nhau… Báo phát hành định kỳ vào ngày thứ 6 hàng tuần với 18 trang nội dung và 8 trang quảng cáo. Báo có các chuyên mục là phần xã thuyết, văn nghệ, dạy gia chánh, học nghề cùng các trang cách ngôn, lời hay ý đẹp và mẹ con nói chuyện.

Tờ báo tập hợp được những cây bút có tư tưởng tiến bộ, lên tiếng đòi nam nữ bình quyền, thúc giục, vận động phụ nữ học hành, đấu tranh đòi được bình đẳng với nam giới..., lấy những gương sáng của phụ nữ các nước tiên tiến ở châu Âu, châu Mỹ để khuyến khích chị em trong nước.

Trong một bài bàn về nữ quyền, Sương Nguyệt Anh viết: “Chị em ơi!... Muốn có cái địa vị ngang hàng với nam giới thì (chẳng những) việc tề gia nội trợ phải thuộc lòng, tình thế trong ngoài cũng nên ghé mắt, tuy chưa được như người Âu Mỹ song cũng đừng phụ tiếng Lạc Hồng”. Tư tưởng so với đương thời, thật tiến bộ, văn chương mạnh mẽ, như những lời kêu gọi của Đông Kinh nghĩa thục và phong trào Duy Tân lúc ấy.

Cũng trên tờ “Nữ giới chung” này, còn có những bài thơ đề cao tinh thần quật khởi của các nữ anh hùng dân tộc như Bà Trưng, Bà Triệu hoặc đăng những bài thơ đề cao nữ quyền, trong đó có những câu nói rõ tiêu chí của tờ báo như: “Vang lừng nữ giới những hồi chuông/ Thúc bạn quần thoa thoát cửa buồng”... (Số 8 ra ngày 22/3/1918). Ngoài ra, báo cũng đăng những bài thơ khuyên thanh niên Việt Nam không nên đi lính cho Pháp trong chiến tranh thế giới thứ nhất 1914-1918, trong đó có bài Chinh Phụ thi của Sương Nguyệt Anh.

“Nữ giới chung” là tờ báo đầu tiên ở nước ta chú trọng đến việc dạy nữ công, đức hạnh phụ nữ và phê phán luật lệ khắt khe đối với nữ giới thời đó, đồng thời chủ trương đấu tranh mạnh mẽ cho vấn đề bình đẳng nam nữ. Theo bà Sương Nguyệt Anh, quyền bình đẳng nam nữ có nghĩa là “phụ nữ có cùng lợi ích như nam giới”, phụ nữ cũng thông minh như nam giới, nhưng sự bình đẳng về trí thức khác sự giống nhau về vai trò và đối với phụ nữ “việc trông coi nhà cửa, giúp đỡ chồng, dạy dỗ con cái là lẽ tự nhiên”.  

Suốt 20 số báo, Sương Nguyệt Anh dành trọn cả tài năng và tâm huyết của mình để góp phần làm chấn hưng tinh thần nữ giới nước nhà. Bà không những có vai trò to lớn trong việc làm thức tỉnh và cổ vũ các độc giả nữ trước thời thế mới mà còn làm đa dạng, phong phú, hoàn thiện thêm nền báo chí non trẻ của Việt Nam khi đó, đồng thời tạo tiền đề tốt cho hàng loạt báo chí về phụ nữ sau này xuất hiện như “Phụ nữ tân văn”, “Phụ nữ thời đàm”.

Tuy chỉ hoạt động vỏn vẹn gần một năm, nhưng tờ “Nữ giới chung” của chủ bút Sương Nguyệt Anh đã gây được ấn tượng mạnh trong làng báo Việt Nam đầu thế kỷ XX. Nó đánh dấu sự thức tỉnh của một số người về quyền sống của phụ nữ, của con người, của văn minh khoa học. Tinh thần nhân bản, khai phóng và dân tộc đã thể hiện trong mục đích của tờ báo. Giá trị và vai trò của người phụ nữ Việt Nam được lưu ý nâng cao.

Cuối năm 1918, sau gần một năm hoạt động, xuất bản được hơn 20 số báo, tờ báo đã bị chính quyền thuộc Pháp buộc phải đình bản. Đầu năm 1919, bà rời Sài Gòn về ở với người em trai út là ông Nguyễn Đình Chiêm ở Ba Tri. Lúc này sức đã yếu, lại bị bệnh rồi mù giống cha nhưng bà vẫn tiếp tục dạy học, làm thuốc chữa bệnh giúp đời và sáng tác thơ văn cho tới ngày tạ thế 4/1/1921, thọ 57 tuổi.

Bằng tất cả tài năng, tâm huyết, suốt đời phấn đấu vì sự nghiệp chung, Sương Nguyệt Anh đã để lại trong tâm trí người Việt Nam hình ảnh đẹp về một nữ chủ bút đầu tiên, một nhà thơ đa tài và một người tiên phong trong cuộc đấu tranh vì quyền lợi, địa vị của phụ nữ nước nhà. Ngày nay, tên bà được đặt cho nhiều đường phố, trường học, hội bút, câu lạc bộ... với niềm trân trọng, tự hào sâu xa. Nhà thơ Nguyễn Liên Phong (tác giả Điếu cổ hạ kim thi tập) đã dành những lời thật xứng đáng khi viết về Sương Nguyệt Anh:

Gương tỏ đời nay trang tiết phụ

Lâu đài tiếng tốt tạc non sông.

Mỗi khi nhắc đến Sương Nguyệt Anh, người ta vẫn thấy ở bà một tấm gương hoạt động cho giới nữ không ngừng nghỉ. Bằng tất cả tài năng, tâm huyết, suốt đời phấn đấu vì sự nghiệp chung, Sương Nguyệt Anh đã để lại trong tâm trí người Việt hình ảnh đẹp về một nữ chủ báo đầu tiên, một nhà báo, nhà thơ đa tài và một người tiên phong trong công cuộc đấu tranh vì quyền lợi, địa vị của phụ nữ nước nhà. Bà xứng đáng là nữ sĩ tiên phong trên đất Việt.

(Tổng hợp)

 

 

 

 

 

 Ý kiến của bạn |   Gửi tin qua E-mail |   Bản để in
Tin liên quan
Các tin khác

Video

Khai mạc Trại hè Việt Nam 2018
Thăm ngôi nhà cổ nhất xứ Đoài
Nữ Viện sỹ, Tiến sỹ mở cánh cửa “Quốc gia thông minh”
Lặn ngắm san hô, chinh phục núi đá, xem rùa biển “vượt cạn” ở Hòn Khô
Nét đẹp bồng lai Hồ Ba Bể
Vịnh Vân Phong – nàng công chúa trên biển cả
Đến với Thang Hen – Sức hấp dẫn mới của Cao Bằng
Bình yên Côn Đảo
Du ngoạn Thung Nai – “Hạ Long trên cạn” ở Hòa Bình
Nhà báo ưu tú Võ Nguyên Giáp
Thắng cảnh bạn thích nhất?
Vịnh Hạ Long
Phong Nha - kẻ Bàng
Cát Bà
Đảo Phú Quốc
Fanxipang