04/05/2010 05:30:58 PM
Người khơi dậy tiếng trống thành Thăng Long

Ông không chỉ là một trong những số ít nghệ nhân còn giữ được nghề làm trống cổ Đọi Tam mà ông còn có công trong việc khôi phục dòng trống có từ ngàn đời nay giữa lòng phố cổ, Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Chuyện trống ngàn xưa

Chúng tôi cho xe chạy hết con đường Hàng Trống, với mong mỏi tìm được một cửa hàng bán trống cổ nhưng mọi hy vọng đều tiêu tan. Theo chỉ dẫn của một cụ già chúng tôi tìm đến số 11, phố Hàng Nón để gặp nghệ nhân Nguyễn Chí Tịnh - một trong ít người còn làm trống ở phố cổ Hà Nội.

Nhâm nhi chén trà đặc, nghệ nhân Phạm Chí Tịnh vào chuyện với vẻ mặt đầy tự hào: Nghề làm trống cổ Đọi Tam đã tồn tại được hơn 1000 năm nay. Vào khoảng năm 986, được tin vua Lê Đại Hành sửa soạn về làng Đọi Tam - Duy Tiên - Hà Nam cày ruộng tịch điền khuyến nông. Lúc bấy giờ, trong làng có hai anh em là Nguyễn Đức Năng và Nguyễn Đức Bản đã ngả cây gỗ mít, làm thịt một con trâu lấy da bưng thành một chiếc trống. Họ mang trống ra dự lễ đón vua, tiếng trống gióng lên rền vang như sấm, vua nghe thấy hay liền khen ngợi. Về sau, hai ông được tôn là Trạng Sấm và nghề trống bắt đầu từ đó. Trạng Sấm còn được vua cho lấy người con gái đẹp làng Tiên Phong gần đó.

Ông còn kể trong làng trống Đọi Tam còn truyền tụng nhau một câu chuyện gõ trống mừng vua nữa. Đó là lần vua Lý Thái Tổ dời đô từ từ Hoa Lư về Đại La. Tương truyền khi đoàn thuyền rồng rẽ từ sông Đáy vào sông Châu để thông ra sông Cái (Sông Hồng) đến đoạn uốn lượn ở dưới chân núi Đọi thì dân làng Đọi Tam mang trống ra gõ mừng. Vua lấy làm hài lòng bèn cho một số thợ làng Đọi Tam đi theo về kinh đô Thăng Long làm trống. Rất có thể phố Hàng Trống ở kinh thành Thăng Long, nay là thủ đô Hà Nội được lập từ thời đó.

Khoảng năm 1426 chiến thắng Đông Quan và thành lập vương triều nhà Lê. Âm thanh tiếng trống Đọi Tam khi thì trầm hùng, vang rền, lúc dồn dập như đoàn quân xung trận, lúc trầm bổng như tiếng vọng của núi sông, lúc vui nhộn hào hứng, bay bổng, làm náo nức lòng người...

Người nghệ nhân già hứng khởi đọc một bài thơ rất hay về ý nghĩa của những chiếc trống trận, trống càng to vang thì sức quân càng mạnh:

"Trống dội ngàn non chấn địa cầu
Thăng Long Hà Nội tự ban đầu...!
Rồng bay khí phách muôn niên trước
Hổ cuộn kiêu hùng vạn kỉ sau.
Thành quách thiên thu lưu kí ức
Lũy hào vạn thế mãi hằng sâu
Khí, tài dân tộc hòa sông núi
Bất khuất hào hùng rạng thiên thâu".

Ông kể, ngày xưa, kích cỡ trống chủ yếu đặt làm to để phục vụ lễ hội lớn trong làng hoặc đặt ở công đường để người dân dóng trống kêu oan. Nhờ tiếng trống mà dân giải được oan ức, tìm được quan thanh liêm... Thời kỳ chiến tranh, những tàn phá về đình chùa, miếu mạo, trường học, xóm xã đã khiến nghề trống bị ảnh hưởng và suy giảm nhiều.

Trống không chỉ cùng quân ra trận, trống còn giục đắp đê, đập, trống gọi trẻ đến trường, trống hội ngày xuân, trống đánh vật, trống cúng nhà chùa, trống tế ở đình, cho đến những khúc hát xoan, hát ả đào, hát chèo... cũng cần đến tiếng trống. Như vậy trống gắn liền với dân tộc Việt Nam, trải dài khắp quá trình dựng nước và giữ nước, tiếng trống ăn sâu vào đời sống tâm linh, văn hóa của người Việt biết bao đời nay. Cho dù cuộc sống có thay đổi nhưng những chiếc trống vẫn kề vai sát cánh, gắn kết cộng đồng lại với nhau, làm tăng sức mạnh đoàn kết dân tộc Việt.

Cả đời mang hồn trống cổ

Ông quả quyết, nghề trống với ông gắn bó như hồn và xác vậy, thiếu nghề trống ông chẳng thiết làm gì nữa. Từ thủa 13, khi đang đi học thì đất nước bị giặc Pháp xâm chiếm. Ông chạy loạn cùng cha mình vào Nghệ An - Hà Tĩnh, vừa đi vừa học nghề làm trống cổ để mưu sinh. Khắp chốn Cầu Bố, Rừng Thông,...(Thanh Hóa), cho đến Nam Đàn, Đô Lương, Rú Thành,...(Nghệ An), chỗ nào cũng đã từng in dấu chân tuổi thơ của cậu bé Chí Tịnh.


 Nghệ nhân Tịnh cùng những tác phẩm quý giá của mình


Đã mấy chục năm trời, ông còn nhớ rất rõ lời dặn của cha: "làm trống thì dễ nhưng giữ được hồn trống mới là khó, ta làm trống không chỉ mưu sinh mà còn giúp quân, dân đuổi giặc ra khỏi bờ cõi. Đây là nghề của cha ông nên con phải gắng mà giữ lấy". Cũng chính vì thế mỗi lần nghe tiếng trống thúc dục quân mình ra trận, trong ông lại bừng bừng khí thế dân tộc.

Năm 1952 - 1953 giặc Pháp rút từ Ninh Giang (Hải Dương), về Kiến An (Hải Phòng), quân giặc cứ rút đến đâu thì ông lại tiến theo đến đấy. Với mục đích làm trống cho thiếu nhi để cổ động, đánh đuổi giặc Pháp. Khi giải phóng thủ đô được 1 năm, ông cùng vợ con lên Hà Nội sinh sống mang theo sự hiện diện của trống cổ như một vốn quý không thể thiếu của Hà thành. Ý định của ông là làm trống trên Hàng Trống, để khơi lại những dấu tích xưa còn sót lại ngàn năm nay. Thời gian đó ông còn làm trống gửi vào Nam cho quân đội phục vụ nhu cầu văn hóa - văn nghệ.

Nhưng do cuộc sống bôn ba, ý định đó không thực hiện được ở phố Hàng Trống, cũng vì thế những con phố đất Thủ đô cũng chẳng thiếu dấu chân ông. Ông đã từng mở hiệu làm trống trên các con phố cổ như: phố Hàng Mành, phố Hàng Trống, phố Hàng Hòm, và Hàng Nón nơi ông sống và làm việc bây giờ. Cũng có lúc vì cơm áo mà định bỏ nghề nhưng nghĩ đến lời cha mình nên gắng giữ cho đến tận hôm nay.

Ông bộc bạch để có thể giữ được nghề làm trống thì người nghệ nhân không chỉ am hiểu về trống mà còn phải biết làm thế nào để tiếng trống không bị phai nhạt trong đời sống văn hóa. Cũng vì thế ông luôn tự ý thức, gìn giữ cái tinh túy của nghề, không để sản phẩm thô xấu, chất lượng kém xuất hiện tại thị trường...Âu có lẽ vì tiếng trống ông Tịnh vang, đanh, giòn, trống càng đánh càng rộn tiếng, âm thanh càng vang xa nên cửa hàng của ông càng ngày càng đông khách. Hay bởi người dân biết đến ông với cái công đã đưa trống cổ ra kinh thành Thăng Long.

Nhiều khách nước ngoài qua du lịch, mang theo ảnh các mẫu trống lạ đến đặt làm, khi nhận sản phẩm hoàn thiện, họ đều hài lòng bởi độ khéo tay và sáng tạo của ông. Ông khẳng định cũng bởi vì du khách nước ngoài vì yêu quý nét văn hoá độc đáo của người Việt nên thường mua trống về làm đồ kỷ niệm. Mỗi năm ông cũng nhận làm và tiêu thụ hàng vạn chiếc trống các loại. Nếu lượng đặt lớn, ông lại về làng mời thêm thợ trống ra Hà Nội. Hiện nay đã có những đơn đặt hàng làm trống đến từ nhiều nước như Nhật, Pháp, Hàn Quốc, Thụy Điển. Ngoài trống, ông còn làm ra những bình rượu hình trống cho các công ty để xuất khẩu.

Để làm ra một chiếc trống hoàn chỉnh phải qua rất nhiều công đoạn khác nhau, trong đó khâu quan trọng nhất chính là chọn gỗ. Gỗ làm trống phải là gỗ mít vì có đặc tính nhẹ, xoắn thớ, nên khi đóng đinh không bị nứt. Ngoài ra gỗ mít ít co dãn và đàn hồi nên giữ được hình dáng nguyên vẹn của chiếc trống. Tiếng trống đánh ra âm thanh không bị "vỡ". Đặc biệt, gỗ mít có tuổi đời càng cao thì âm thanh của trống càng đanh, vang và có "hồn".

Khi đã chọn được gỗ ưng ý, người nghệ nhân xẻ, phơi gỗ và ghép dăm dựng thành khung. Tùy theo kích thước trống mà người nghệ nhân sử dụng số lượng dăm trống khác nhau. Những chiếc dăm trống được ghép khít và mài nhẵn tới mức mắt thường khó có thể nhìn thấy vết ghép. Da trống được sử dụng là da trâu hoặc da bò. Nhưng tốt hơn cả là da trâu.

Ngoài việc đi thu gom được gỗ mít tốt, da trâu tươi thì làm trống cũng đòi hỏi tính tỉ mỉ cùng sự kiên trì. Cái hay, cái giỏi, cái tài hoa của người thợ trống thể hiện qua khâu xử lý da trâu hơn hẳn nhiều làng nghề khác. Giai đoạn công phu này đòi hỏi người thợ phải có kinh nghiệm. Nếu miếng da trâu dày hoặc mỏng hơn theo "tiêu chuẩn" là tiếng trống sẽ biến âm. Thế nên, cùng một trống cái, thế nhưng hai mặt trống sẽ cho những âm thanh rất khác nhau. Khi bưng trống không được bưng trùng quá, cũng không được căng quá tiếng trống sẽ ảnh hưởng đến âm thanh của tiếng trống. Mặt trống phải tròn để đảm bảo âm vang và giá trị thẩm mỹ. Ngoài ra, để cho tang trống thật kín, ông còn dùng sơn ta miết vào các khe. Cứ một lớp sơn lại có một lớp vải màn.

Ông cho biết: từ xa xưa, các nghệ nhân đã lấy con số 4 làm chuẩn. Theo quy định của người làm trống, một thước có 40cm. Tùy theo kích thước trống to hay nhỏ mà người nghệ nhân tăng lên hoặc giảm đi 4cm. Chiếc trống nhỏ nhất là 12cm, nhưng có những chiếc trống khổng lồ với chiều cao lên tới 3m07, mặt trống là 2m01.

Với nghề trống, một bàn tay nghệ nhân tài hoa, một đôi tai thính cộng với sự am hiểu về âm nhạc chưa đủ, mà quan trọng người làm phải có tâm thật sáng. Tâm càng sáng thì tiếng trống càng âm vang, lan toả cùng đất nước trong những thời khắc lịch sử quý giá của dân tộc.

Ấp ủ chiếc trống cho đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội

Năm 2000, kỷ niệm 990 năm Thăng Long - Hà Nội, ông cùng trai làng Đọi Tam đã có dịp cống hiến với thủ đô gần 300 chiếc trống hội. Chiếc trống to nhất được gọi là trống Sấm. với đường kính 2,01m, chiều cao 2,65m và thể tích lên đến 10m3, với 10 người bưng, bưng mặt trống trong 2 ngày. Đây là chiếc trống được đánh giá là lớn nhất Đông Nam Á. Hiện ở Văn Miếu vẫn đang lưu bày chiếc Trống Sấm này.

Để sản xuất chiếc trống đặc biệt này, ông và các nghệ nhân của làng đã phải lặn lội khắp các tỉnh Bắc Bộ tìm 2 bộ da trâu, vào tận các tỉnh miền Trung để kiếm cây gỗ mít đáp ứng "tầm cỡ" quả trống. Cuối cùng, sản phẩm được hoàn thành sau 3 tháng làm việc miệt mài của hơn chục người thợ giỏi.

Ông cũng đang ấp ủ dự định sản xuất chiếc trống đạt kỷ lục thế giới nhân dịp "Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội". Để làm được những quả trống có kích thước lớn, thật không dễ chút nào, nó luôn đòi hỏi những người thợ có kỹ năng điêu luyện và kinh nghiệm dày dặn và điều đương nhiên là phải tìm được nguôn nguyên liệu ưng ý.

Sau nhiều năm tháng thăng trầm cùng nghề, nghệ nhân trống cổ Phạm Chí Tịnh khẳng định, so với các nước trong khu vực thì trống cổ nước ta đa dạng và gần gũi đời sống hơn. Người dân nhiều nước châu Á khi nhìn vào bộ trống Việt Nam đã thực sự ngạc nhiên, khâm phục và thích thú. Đón chào Sea Games 22 năm 2003, ông cùng dân làng Đọi Tam đã có công làm cho tiếng trống khai hội âm vang trong lòng bè bạn, mang bản sắc Việt Nam giới thiệu cho bạn bè quốc tế.

Năm 1959, ông còn được vinh dự làm mấy trăm chiếc trống to nhỏ để tặng Tổng thống nước Cộng hòa Inđônêxia Xucacnô (Sukarno hay Soekarno) nhân sự kiện Bác Hồ và tổng thống Xucacnô kết nghĩa anh em.

Đến phố Hàng Nón bây giờ, hỏi về đại gia đình nhà ông Phạm Chí Tịnh thì ai cũng biết và khách nước ngoài vẫn thường xuyên tìm đến. Bởi gia đình ông có 4 người con trai theo nghề và mở mang xưởng chế tác, cửa hàng dọc phố Hàng Nón.

Đối với ông nghề làm trống đã ăn sâu vào từng giọt máu, từng thớ thịt và trong sâu thẳm tiềm thức. Dù thế nào đi nữa, ông vẫn luôn căn dặn con cháu mình: "phải giữ gìn và truyền lại nghề cho đời sau, đừng bao giờ để nghề mai một".

(Theo Vietnamnet)

 

 Ý kiến của bạn |   Gửi tin qua E-mail |   Bản để in
Tin liên quan
  • Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan: Một nhân cách lớn (04/05/2010)
  • Võ Nguyên Giáp - vị tướng yêu hoà bình (29/04/2010)
  • Thân Nhân Trung, tác giả câu nói nổi tiếng "Hiền tài là nguyên khí quốc gia" (28/04/2010)
  • Chuyện kể của những phóng viên ảnh có mặt tại Sài Gòn trong ngày 30/4 (27/04/2010)
  • Chuyện một vị hoàng hậu cầm quân ra trận (26/04/2010)
  • Cần mẫn "đàn kiến biển” (20/04/2010)
  • Phan Châu Trinh và sự thức tỉnh dân tộc thế kỷ XX (09/04/2010)
  • Phụ nữ Ê Đê tương trợ nhau vượt qua khó khăn (08/03/2010)
  • Hồn đất Việt (17/02/2010)
  • Minh triết Hồ Chí Minh với Phật giáo (13/02/2010)
Các tin khác

Video

Ý kiến của kiều bào về Kết luận số 12-KL/TW của Bộ Chính trị
Chị Võ Thị Sáu - vọng mãi lời ca
Lê Lợi - Vị anh hùng giải phóng dân tộc
Thân Nhân Trung, tác giả câu nói nổi tiếng "Hiền tài là nguyên khí quốc gia"
Ngô Sĩ Liên - Sử gia danh tiếng của nước Đại Việt
Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác - một danh y lớn của dân tộc
Nguyễn Trung Trực – một anh hùng dân tộc đặc biệt
Đức Thánh Trần trong thơ văn Hồ Chí Minh
Thắng cảnh bạn thích nhất?
Vịnh Hạ Long
Phong Nha - kẻ Bàng
Cát Bà
Đảo Phú Quốc
Fanxipang