12/10/2012 10:53:12 AM
Giải đáp về việc hủy bỏ và lập thừa kế

* Hỏi: Chồng tôi là người nước ngoài đang sinh sống tại Việt Nam. Trước khi kết hôn với tôi, anh ấy đã lập di chúc để lại tài sản cho một số người ở quê hương anh ấy. Bây giờ anh ấy muốn hủy bỏ di chúc cũ và lập lại một di chúc mới để tôi thừa kế. Anh ấy phải làm những gì? Anh ấy có thể làm di chúc mới tại Việt Nam nơi anh ấy đang sống?

Trả lời:

1.       Theo điều 768 Bộ luật dân sự 2005 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (“Bộ Luật Dân sự”) thì việc lập di chúc, thay đổi và hủy bỏ di chúc phải tuân theo pháp luật của nước mà người lập di chúc là công dân; về hình thức của di chúc, phải tuân theo pháp luật của nước nơi lập di chúc, tức là tuân theo pháp luật Việt Nam.

      Do vậy, bạn cần tham khảo pháp luật nơi chồng bạn là công dân để thực hiện thủ tục hủy bỏ di chúc cũ và lập lại một di chúc mới.

2.       Chồng bạn có thể làm di chúc mới tại Việt Nam khi anh ta thực hiện xong thủ tục hủy bỏ di chúc cũ đã lập tại quê hương anh ta. Và anh ta phải chứng minh được quyền sở hữu hợp pháp tài sản của mình ở nước sở tại và ở Việt Nam (nếu có).

Điều 631 Bộ Luật Dân sự quy định: “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật”.

Điều 649 Bộ Luật Dân dự quy định: “Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng”.

Như vậy, trong trường hợp chồng bạn muốn lập di chúc, để lại tài sản cho bạn tại Việt Nam, chồng bạn phải lập thành văn bản hoặc bằng miệng (trong trường hợp không thể lập bằng văn bản).

Lưu ý: Đối với trường hợp lập di chúc bằng miệng, sau ba tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị huỷ bỏ (Điều 651 Bộ Luật Dân sự).

Sau đó, nếu có khả năng thì người lập di chúc phải thực hiện bằng văn bản. Trong trường hợp người lập di chúc không thể tự mình viết bản di chúc thì có thể nhờ người khác viết, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc (Điều 656 Bộ Luật Dân sự).

Văn phòng Luật sư NHQuang và Cộng sự
B23, Khu Biệt thự Trung Hòa – Nhân Chính,
Thanh Xuân, Hà Nội

 Ý kiến của bạn |   Gửi tin qua E-mail |   Bản để in
Tin liên quan
Các tin khác

Video

Khai mạc Trại hè Việt Nam 2018
Chú tôi có bị bắt khi về thăm Việt Nam? (phần 1)
Là người gốc VN thì có được hưởng quyền lợi và nghĩa vụ như công dân VN?
Tôi muốn về Việt Nam học đại học, phải làm sao?
Cần làm thủ tục gì để bảo lãnh người thân sang Hàn Quốc cùng mình?
Chị tôi có thể bão lãnh tôi sang du lịch Hàn Quốc không?
Thủ tục lập di chúc cho con thừa kế tài sản tại Việt Nam?
Tôi muốn về Việt Nam học đại học, cần làm gì?
Sử dụng dịch vụ quảng cáo của Facebook, Google, tính thuế thế nào?
Có nên đổi tên theo họ chồng trên hộ chiếu Việt Nam không?
Dì ruột hoặc ông bà có thể nhận nuôi cháu không?
Người Việt Nam định cư ở nước ngoài muốn đổi tên, làm thế nào?
Trích lục bản sao Giấy khai sinh do CQĐD cấp, làm thế nào?
Thắng cảnh bạn thích nhất?
Vịnh Hạ Long
Phong Nha - kẻ Bàng
Cát Bà
Đảo Phú Quốc
Fanxipang