03/10/2017 09:26:00 AM
Tìm câu hát hố ngày xưa

Thuở trước, hát hố là nét đặc sắc trong sinh hoạt cộng đồng và là sợi dây gắn kết người với người. Những lời ca chân quê thắm đượm nghĩa tình làm vơi đi nỗi nhọc nhằn, “se duyên” cho bao lứa đôi nên nghĩa vợ chồng. Hát hố kêu gọi nhân dân chung lòng đứng lên đánh Tây, cởi bỏ ách nô lệ, giải phóng quê hương, đất nước.

Hát cho vơi đi những nhọc nhằn

Ở tuổi 92, cụ Trịnh Thị Khâm ở xã Phổ Cường (Đức Phổ), Quảng Ngãi vừa trải qua cơn bạo bệnh nhưng rất hào hứng khi nói về hát hố, làn điệu dân ca một thời gắn bó với người dân quê. Thuở đôi mươi, cụ đã thuộc khá nhiều bài hát hố và ứng tác khá trôi chảy mỗi khi hát đối đáp. Những buổi khom lưng cấy lúa trên đồng, cụ cùng nhiều người ngân nga đối đáp qua câu hát hố làm vơi đi bao nỗi nhọc nhằn.

“Lúc ấy chân lội xuống bùn, tay nắm bó mạ và lưng cúi xuống mặt ruộng để cấy lúa nên vất vả lắm. Nhờ hát hố nên chúng tôi cảm thấy bớt mỏi mệt. Mê hát đến nỗi quên cả ăn cơm trưa. Ban đêm, tôi và nhiều người tụ họp tại một nhà trong xóm để cùng nhau hát hố. Vui lắm…” – cụ nhớ lại.

 Cụ Trịnh Thị Khâm vui vẻ hát hố khi có người lắng nghe

Khoảng 50 năm về trước, rất nhiều nông dân nơi làng quê trên địa bàn hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định say mê hát hố với những ca từ mộc mạc nhưng không kém phần thanh tao. Hát hố gắn liền với cuộc sống của người dân quê chân chất, là loại hình sinh hoạt dân gian. Người hát có thể hát theo bài bản sẵn có hay ứng tác đối đáp trong những tình huống cụ thể. Lời ca chứa đựng nỗi niềm tâm tư đôi lứa, hờn trách duyên phận hay giao lưu kết bạn, trêu ghẹo nhau…

Nhiều người không biết chữ nhưng vẫn thuộc làu nhiều bài hát hố, ứng biến khá trôi chảy khi hát đối đáp. Những lúc khom lưng cấy lúa trên đồng, ra gò đồi chăm sóc hoa màu hay lên rừng cắt tranh, nhặt củi… chỉ dăm ba người là có thể gầy thành “chiếu” hát hố rộn ràng. Đêm thanh gió mát, trai gái trong làng tụ họp cùng nhau giã gạo và cất lên những lời ca làm khuấy động làng quê, thu hút nhiều người tìm đến giao lưu.

Người đến sau nhập cuộc với những ca từ tràn đầy ý thơ: “Tới đây chào muộn, chào màng/ Trai đang giã tôi chào trước, gái đang sàng tôi chào sau/ Ai có miếng trầu cho tôi đổi miếng cau/ Ai có ơn trước nghĩa sau thì nhìn/ Ở nhà con nhện đưa tin/ Tới đây gặp bạn cũng in như lời/ Hồi vui chớp cánh bay chơi/ Hồi buồn cưỡi hạc lên trời xem mây/ Ngó tiếng kêu thục nữ ở lầu tây/ Ai gầy duyên, cảm nghĩa, giữa chốn này có em”.

Sau mỗi lời hát, chàng trai dùng chày gõ vào cối gỗ để mời bạn hát đối đáp. Những lời ca đối qua – đáp lại kéo dài đến tận canh khuya, khi những thúng gạo của gia chủ đã đầy tràn, mọi người mới lưu luyến chia tay.

Thuở trước, khi đến mùa thu hoạch mía, nhiều người trong làng rủ nhau đến lò nấu đường thủ công dựng trên khoảnh đất rộng, cùng nhau đẩy thanh gỗ lớn gắn vào 3 chiếc che gỗ (dùng để ép mía) thay cho trâu, bò. Dân gian gọi đấy là chạy che, công việc khá nặng nhọc. Thế nhưng, khi có người cất lên lời ca thì cả nhóm đều hưởng ứng hát đối qua – đáp lại làm vơi đi bao nỗi nhọc nhằn.

Vợ chồng cụ Khâm cùng nhiều người Phổ Cường thuở ấy thường quẩy quang gánh cuốc bộ vào tận Tam Quan (Hoài Nhơn, Bình Định) mua chiếu, mắm, chén sành… gánh trở về ngược lên tận huyện Ba Tơ đổi lấy hàng nông sản rồi mang về xuôi bán kiếm lời. Chặng đường đi về hơn 200km với quang gánh nặng oằn vai, đôi chân rã rời. Nhưng họ vẫn cất lời ca hát hố, đối đáp với nhau như để tiếp thêm nghị lực vượt qua gian nan.

“Đi như thế mệt lắm nên chúng tôi hát hố trêu ghẹo, động viên nhau để quên đi mỏi mệt. Người này vừa hát vài câu hay cả bài thì người kia lập tức hát đáp lại ngay. Chân thì bước, miệng thì hát nên thấy đường dài dường như ngắn lại…” – cụ Khâm hồi tưởng.

Những chàng trai, cô gái có giọng hát hay, ứng tác lưu loát khiến cho bao người thầm thương trộm nhớ, mong gặp mặt để được nghe hát. Hát hố còn se duyên cho bao người nên nghĩa vợ chồng với những lời hứa hẹn sắt đá.

 Cụ Phan Thị Bảy bồi hồi, nhớ về những người bạn cùng nhau hát hố thuở trước

Lời ca kêu gọi đánh Tây

Trong những năm kháng chiến chống Pháp, vùng đất Phổ Cường, Phổ Khánh và khu vực lân cận thuộc quyền kiểm soát của chính quyền cách mạng. Nhiều lần, quân Pháp bất ngờ đổ bộ từ hướng biển vào đất liền bắn giết nhưng bị quân và dân Phổ Cường, Phổ Khánh… đánh cho tan tác.

Những “nghệ sỹ dân gian” sáng tác những bài hát hố kêu gọi nhân dân đoàn kết đánh Tây, vận động người theo Pháp rời bỏ hàng ngũ quân xâm lược trở về với gia đình, quê hương. Và “cứ nghe hát hố là mọi người tìm đến” nên những lời ca ấy nhanh chóng được lan truyền trong dân chúng.

Lời người cha tràn đầy yêu thương, khơi gợi niềm tự hào dân tộc kêu gọi con trai lầm lỗi trở về: “Đôi lời nhắn nhủ thăm con/ Lòng cha lo nghĩ, héo hon từng ngày/ Trông con trông đứng, trông ngồi/ Mỏi mòn con mắt tơi bời ruột gan/ Vì xem quang cảnh giang sang/ Giận quân cướp nước sài lang tham tàn… Đốt nhà, đốt cả đồng bào/ Giết người, cướp của biết bao nhiêu sầu/ Non sông xem thấy mà đau/ Người con xa ấy ở đâu bây giờ/Giang sang đương đợi đương chờ/ Mà con lại nỡ làm ngơ sao đành… Thương con mấy bận lòng sầu/ Cha đau mấy trận, cha rầu vì con/ Về đây giữ nước giành non… Giang sơn đau khổ muôn vàn/ Mà con đi bảo vệ Tây làm gì/ Về đây, con hỡi về đây/ Lòng cha tha thứ một khi con về”.

Lời của người vợ trẻ tha thiết pha lẫn chút dỗi hờn, kêu gọi chồng trở về: “Giặc tràn xâm chiếm non sông/ Ai ơi nhắn hộ cho chồng tôi ơi/ Bao nhiêu máu đổ đầu rơi/ Bao nhiêu máu hận thay lời khóc than/ Giận quân cướp nước tham tàn/ Giận người bỏ vợ, bỏ đàn con thơ/ Mẹ già đầu bạc như tơ/ Thân em tựa cửa ngẩn ngơ nhớ chàng/Con nay tay bế tay bồng/ Con thơ ngậm sữa ngóng trông cha về… Về đây gắn nghĩa tào khang/ Về đây cứu vớt giang sang phen này/ Sao chàng đi lính cho Tây/ Thiếp nay đang sống những ngày đớn đau/ Về đây hôm sớm có nhau/ Về đây dưa muối, canh rau sum vầy/ Cùng nhau kháng chiến từ đây/ Cùng nhau mình hưởng những ngày vinh quang”.

Ở tuổi 95, cụ Phan Thị Bảy bồi hồi khi nhớ về những người bạn thời trẻ đã cùng nhau hát hố trong những đêm trăng thanh gió mát. Giờ họ đã về với tổ tiên, nhiều người hóa thân vào hồn thiêng sông núi bởi bom đạn của quân thù. Những lời ca giục giã họ lên đường vào bộ đội, dân công phục vụ chiến đấu rồi anh dũng hy sinh nơi chiến trường. “Lúc đó chưa có hát nhạc hay chiếu phim như bây giờ nên chúng tôi mê hát hố lắm, thường tụ tập nhau để hát chơi cho bớt mệt nhọc.

Nghe mấy ông cán bộ nói chuyện Cụ Hồ kêu gọi toàn dân đoàn kết đứng lên đánh Tây, thanh niên hăng hái lắm. Sau đó, không biết ai đặt nhiều bài hát hố vận động người theo Tây trở về với quân mình và kêu gọi người dân tham gia hát hố. Những câu hát đó cứ lan truyền, nhiều người liền đăng ký đi bộ đội, dân công hỏa tuyến, thanh niên xung phong…” – cụ nhớ lại.

Tinh thần yêu nước của người dân Phổ Cường tha thiết hơn bởi những bài hát hố kêu gọi đứng lên đánh Tây đẻ giải phóng quê hương. Họ sẵn sàng ra trận, chung tay đóng góp công sức và tiền của cho kháng chiến. Với những đóng góp to lớn đó, Phổ Cường đã được khen tặng là xã kiểu mẫu của khu 5 vào năm 1950 rồi đến đầu năm 1951 được khu ủy khu 5 tặng cờ “ngọn đuốc thi đua”.

Và ngay sau đó là những lời ca tự hào về truyền thống quê hương trung dũng, kiên cường: “Từ ngày kháng chiến, nước ta lẫy lừng/ Dù cho cay đắng, chúng ta không ngừng/ Phổ Cường ngày nay là nơi danh tiếng/ Do sự cố gắng (của) dân trong xã nhà/Ngày nay ta tiến, cố tiến lên đi/ Cho danh lừng lẫy, nêu cao lá quân kỳ/ Giờ thi đua, thi tài, ta thi chí/ Cho xã nhà lấy tiếng nghìn thu/ Ngọn cờ thắm, sao vàng ta ghi nhớ/ Cho muôn người ghi nhớ, đừng quên”.

Ông Nguyễn Thanh Sơn – Phó Phòng Văn hóa – Thông tin huyện Đức Phổ, người rất say mê và thuộc làu nhiều bài hát hố chia sẻ: “Hát hố là làn điệu dân ca đặc sắc trong đời sống của người dân quê thuở trước. Giờ cuộc sống hiện đại với nhiều loại hình nghệ thuật và phương tiện nghe nhìn nên bị phai mờ. Dẫu vậy, chúng tôi cũng đã sưu tầm rất nhiều bài hát hố nhằm bảo tồn loại hình văn hóa dân gian này”.     

Ở tuổi gần đất xa trời nhưng cụ Khâm và cụ Bảy vẫn say mê làn điệu hát hố, dẫu giọng ca không thể ngân nga như thuở trước. Các cụ như đắm mình vào từng lời ca mỗi khi có thính giả lắng nghe. Cả hai cụ đều gọi với theo khi tôi xin phép ra về: “Bữa nào rảnh thì rủ thêm bạn đến đây, bà hát cho mà nghe! Hay lắm! Hát đến ba ngày vẫn không hết bài. Mấy cháu còn trẻ phải chịu khó nghe hát hố để rồi hát theo chứ bỏ luôn thì uổng lắm”.

Ngư dân cũng mê đắm hát hố

Hát hố là loại hình sinh hoạt dân gian gắn liền với cuộc sống của người nông dân quanh năm chân lấm tay bùn. Nhưng làn điệu này cũng đã thu hút nhiều ngư dân quanh năm lênh đênh trên sóng nước. Họ yêu thích hát hố như yêu trời xanh, biển rộng bao la. “Lúc trước, cha tôi cùng với nhiều ngư dân trong vạn sáng sớm tinh sương ra biển đánh bắt trên chiếc thuyền buồm đến tối mịt mới trở về. Vừa tới nhà, mấy ổng tắm rửa và ăn vội vài chén cơm rồi rủ nhau lội bộ hàng chục cây số lên tận Phổ Khánh, Phổ Cường để hát hố…” – cụ Lê Ơi – Vạn trưởng Vạn chài Thạch By, xã Phổ Thạnh (Đức Phổ) cho biết.

 (Theo Trang Thy/ Báo Quảng Ngãi)

 Ý kiến của bạn |   Gửi tin qua E-mail |   Bản để in
Tin liên quan
Các tin khác

Video

Đoàn kiều bào và hải trình đến với Trường Sa 2017
Đến Hậu Giang, đừng quên thưởng thức sỏi… mầm
Bông điên điển món ngon vùng sông nước Hậu Giang
Bếp lửa trong đời sống của người Xơ Đăng
Làng nghề bánh tráng Thuận Hưng “đỏ lửa” hơn 200 năm
Làng nghề “mặn mòi” vị biển ở Sông Đốc
Bánh khọt Vũng Tàu
Về thăm làng nghề lụa Tân Châu
Gốm Phù Lãng - Vẻ đẹp mang tên “hồn quê”
Lễ hội Ok Om Bok - sức mạnh kì diệu của Thần Mặt trăng
Muối Cồn Cù chắt chiu từ vị mặn của biển
Lễ hội Nghinh Ông đình Thần Thắng Tam - Nét đặc sắc trong văn hóa ngư dân biển
Độc đáo thuyền thúng Phú Mỹ
Thắng cảnh bạn thích nhất?
Vịnh Hạ Long
Phong Nha - kẻ Bàng
Cát Bà
Đảo Phú Quốc
Fanxipang