|
Giai thoại Việt Nam
|
|
| Thứ năm, 04/02/2010, 14:41:48 PM | | | | | | Ý kiến của bạn | Gửi tin qua E-mail | Bản để in | | | | Khoảng đời nhà Mạc, ở Hải Dương có hai người bạn ở gần làng nhau: Phạm Trấn ở làng Lâm Kiều và Ðỗ Uông ở làng Ðoàn Lâm.
Vào năm Quang Bảo đời Mạc Phúc Nguyên (1554- 1561), hai người cùng trạc ba mươi tuổi và cùng đỗ khoa thi hội. Ðến kỳ thi đình, Phạm Trấn đỗ Trạng nguyên, còn Ðỗ Uông thì đỗ Bảng nhãn. Trấn, sức học vốn kém Uông, nên hí hửng lắm, bảo: "Gìơ ta mới đè được thằng Uông đây!"
Uông nghe nói tức lắm. Lúc vinh quy, Trạng Bảng cùng về một đường. Bảng không chịu nhường Trạng đi trước, cứ dóng ngựa đi ngang hàng.
Ðến làng Hoạch Trạch, dân chúng kéo nhau ra xem và xin thơ để đề vào chiếc cầu ở đầu làng. Ðó là chiếc cầu ngói hơn mười gian. Bảng, Trạng liền thách nhau qua bảy gian phải vịnh xong bài thơ; ai xong trước đi trước, không được tranh nhau.
Lần ấy Trấn thắng, ai cũng chịu tài, chỉ Uông không phục, cho là thơ đã làm sẵn từ bao giờ. Rồi, lại dóng ngựa đi ngang hàng. Ðến làng Minh Luận, có người mới làm xong nhà, ra đón đường xin một bài thơ mừng nhà mới. Trấn đọc luôn:
Năm năm thêm phú quý
Ngày ngày hưởng vinh hoa
Xưa có câu như thế
Nay mừng mới làm nhà.
Lần này, Uông đã có vẻ hơi chịu tài nhanh nhẹn của Trấn. Ðến cầu làng Ðoàn Lâm, tục gọi là Cầu Cốc, trong cầu có cô bán hàng là cô Loan; hai người lại thách nhau làm bài thơ Nôm lấy đề là "Cô Loan bán hàng cầu Cốc". Hạn mỗi câu phải có hai giống chim, qua cầu phải xong, ai xong trước đi trước, nhất thiết không được tranh nhau nữa. Trấn ngồi trên lưng ngựa, đọc ngay rằng:
Quai vạc đôi bên cánh phượng phong
Dở giang bán chác lựa đồ công
Xanh le mở khép nem hồng mới
Bạc ác phô phang rượu vịt nồng...
Bảng bấy giờ mới thực sự chịu phục Trạng là nhanh trí và nhường cho Trạng đi trước, không tranh dành gì nữa.
(St)
| | | |
|
|
|
|
|
| | | Xin câu đối Cao Bá Quát (*) | | |
| | | Giai thoại về vua Lê Thánh Tông | | | Nhân dịp đầu Xuân, Vua Lê Thánh Tông ngự thăm nhà Thái Học (Văn Miếu) lúc về ghé qua chùa Ngọc Hồ ở thôn Thanh Ngô gần đấy.
| | |
|
|
|
| | | Lê Nại, người làng Mộ Trạch, huyện Ðường An (nay là huyện Bình Giang) tỉnh Hải Dương, học giỏi, đỗ đến Trạng nguyên đời Lê Uy Mục (1505), làm quan đến Hữu thị lang, tước Ðạo trạch bá.
| | |
| | | Nhân dịp đầu năm mới, Vua Lê Thánh Tông ăn mặc giả làm thường dân ra phố chơi để xem xét tình hình dân chúng. | | |
| | | Cô đầu V, người huyện Bình Lục (Hà Nam), lúc gần luống tuổi bỏ nghề, về quê lấy một người chồng làm ruộng. Nhờ siêng năng, cần cù, vợ chồng dựng được một cái nhà ba gian. Ở căn giữa bên cạnh bàn thờ người mẹ nuôi của cô, tức là bà trùm nhà cô hát ngày xưa. Trước bàn thờ cô có treo một câu đối Nôm. Bấy giờ trong làng không còn mấy ai nhớ đến nghề cũ của cô.
| | |
| | | Có viên Án sát tỉnh Kiến An, xuất thân tiến sỹ, thơ Nôm nổi tiếng khắp vùng. Nhưng tính ông ta lại hay nóng nảy thô bạo. Trên bàn giấy lúc nào cũng để một con sấu đá. Con sấu đá người ta tặng ông để làm cái chặn giấy, nhưng ông ta thì lại dùng vào việc khác. | | |
| | | Bài ca trù khích lệ anh hùng | | | Khoảng cuối năm Quý Tỵ, Tự Đức thứ 36 (1883) tại làng Sơn Lộ (tục gọi làng So) thuộc phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây (nay là Hà Nội), xuất hiện một tay hiệt kiệt gọi là Tư So. Tư So vốn là phòng binh tại tỉnh thành, sau khi Sơn Tây thất thủ (cuộc kháng chiến chống Pháp của tỉnh Tây Sơn do Hoàng Tá Viêm lãnh đạo) các tướng lĩnh tản mát mỗi người một nơi, Tư So cùng với một người bạn lính tên Vùng (quê làng Thượng Ốc) chạy về làng Sơn Lộ.
| | |
| | | Vũ Hữu (1437–1530) là một nhà toán học người Việt, và cũng là một danh thần dưới triều đại Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông. Ông còn được coi là nhà toán học đầu tiên của Việt Nam.
| | |
| | | Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888), người huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định, đỗ tú tài năm 1843, vì bị mù nên lui về dạy học. Ông là một nhà thơ lớn, tác giả của truyện Lục Vân Tiên, Ngư tiều vấn đáp y thuật và nhiều bài văn tế nổi tiếng giàu lòng yêu nước thương dân.
| | |
| | | Giáp Hải (1507 – 1586) quê làng Dinh Kế, huyện Phượng Nhân (nay thuộc tỉnh Bắc Giang) là người có tài văn học, giỏi việc bang giao, đỗ trạng nguyên năm 1538, sau được dân thờ làm thành hoàng, vẫn gọi là Trạng Kế.
| | |
| | | Dưới thời Pháp thuộc, có hai thầy giáo kia dạy ở một trường trung học: Việc dạy ít được quan tâm, các thầy thường ngày chỉ khích bác, trêu chọc nhau. Một người dạy chữ hán, một người dạy chữ Pháp. Ai cũng bảo môn mình là hơn, song chung qui ai cũng quan tâm đến sinh hoạt tổ chức hơn là chuyên môn nghiệp vụ. | | |
| | | Mẹ Nguyễn Bỉnh Khiêm là bà Nhữ Thị Thục, vốn tinh thông tướng số, đồng thời cũng luôn luôn nuôi khát vọng ngông cuồng. Bà ưng làm Hoàng hậu hay Hoàng Thái hậu. Sinh con trai là Nguyễn Bỉnh Khiêm, bà ao ước sau này con sẽ làm vua. Trong quá trình dạy dỗ, từ khi cậu Khiêm mới hai ba tuổi, bà đã truyền cái ước mơ ấy cho con rồi.
| | |
| | | Lúc còn hàn vi, Nguyễn Khuyến rất nghèo, mặc dù đã nổi tiếng có tài văn chương, ai cũng chắc là ông sẽ đỗ nghè, đỗ cống nay mai. Nhưng lúc này thì vẫn là túng kiết! Sắp sửa đi thi, ông đành tìm đến nhà người bạn để vay tiền lộ phí. | | |
| | | Cho con cái kết hôn với nhau | | | Chuyện kể rằng dưới triều Lê, ở một xã kia thuộc huyện Nam Chân (nay là Nam Trực, tỉnh Nam Định), có một học trò vì cảnh nghèo đói cô đơn mà bị nhiều người khinh bỉ, nhất là những bọn tai to mặt lớn trong làng. Hễ anh nói ra câu gì là bị bọn chúng gạt đi ngay, cho là nhảm nhí, không đúng lẽ, không đáng để lọt tai. Anh chỉ còn có cách sống thui thủi trong lều tranh vách đất của mình, đêm ngày lo học. Đến kỳ thi, anh cũng bí mật lần mò ra đi, nhờ sự hảo tâm của khách đi đường để đến được chỗ giật giải tranh lèo với chúng bạn. Kết quả, anh đỗ cao, rồi ra làm quan, lên đến chức tham chính.
| | |
| | | Trăng soi bốn vách chi gieo sầu | | | Có lần vua Tự Đức ra đầu đề cho các quan làm thơ. Nhà vua nêu quy tắc rất nghiệt ngã... | | |
| | | Dư luận truyền rằng Tự Đức là một người con thờ mẹ rất có hiếu, có lẽ xưa nay trong lịch sử Việt Nam không có ai sánh kịp. | | |
|
|
|
|