| Những số liệu thông tin về NVNONN mới nhận được trong những năm đầu của thế kỷ mới càng củng cố thêm cho lời khẳng định "NVNONN là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc VN. Nhà nước VN có trách nhiệm bảo hộ quyền lợi chính đáng của kiều bào trên cơ sở luật pháp VN, luật pháp các nước sở tại và luật pháp quốc tế”... LTS: Từ đầu thế kỷ XX đã có những nhóm người VN đi ra nước ngoài sinh sống, làm ăn nhưng so với các cộng đồng ngoại kiều khác, cộng đồng NVNONN vẫn thuộc loại “trẻ”. Chúng ta chưa có con số thống kê chính thức về cộng đồng khoảng 3,5 triệu NVN ở khoảng 100 nước và vùng lãnh thổ ngoài biên giới nước ta và cũng chưa có nhiều công trình nghiên cứu về đời sống mọi mặt của “bộ phận không tách rời” này của dân tộc VN. Sự khác biệt trong cách đặt vấn đề, trong cách tiếp cận và cung cấp thông tin về đối tượng nghiên cứu là dễ hiểu và đôi khi còn rất lớn. Với tinh thần cung cấp thông tin nhiều chiều, tạo không gian quan sát và diễn đàn trao đổi về vấn đề kiều dân - một vấn đề ngày càng được coi trọng trong quan hệ giữa các quốc gia với nhau - Tạp chí Quê Hương xin đăng bài của Tiến sỹ Trần Trọng Đăng Đàn, một nhà nghiên cứu khoa học xã hội rất tâm huyết với đề tài “Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài”.
Các ý kiến trao đổi của Bạn đọc liên quan đến vấn đề này xin gửi về Ban Biên tập Tạp chí Quê Hương, địa chỉ bưu điện: 7B ngõ Phan Chu Trinh, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, Việt Nam; địa chỉ thư điện tử: info@quehuongonline.vn và quehuong@hn.vnn.vn. Tạp chí Quê Hương sẽ đăng các bài và ý kiến trao đổi của Bạn đọc trên cả hai phiên bản in và điện tử ( http://quehuongonline.vn ) để mọi người cùng tham khảo.
*
* *
Cho đến đầu thế kỷ XXI, VN là nước có kiều dân thuộc loại nhiều và có thể nói là thuộc loại rất nhiều nếu tính tỷ lệ kiều dân VN so với tổng số dân trong nước.
Vào cuối thế kỷ trước, khi dân nước Trung Quốc có khoảng 1,3 tỷ thì Hoa kiều có khoảng 55 triệu, chiếm tỷ lệ 4,23%; Anh có khoảng 60 triệu dân thì kiều dân Anh có khoảng 2 triệu, chiếm 3,33%; Ấn Độ có khoảng 900 triệu dân thì kiều dân Ấn Độ có khoảng 20 triệu, chiếm tỷ lệ 2,22%; Nhật Bản có khoảng 120 triệu dân thì kiều dân Nhật có khoảng 2 triệu, chiếm 1,66%... Cùng thời gian đó VN có khoảng 68 triệu dân thì NVNONN có khoảng 2,6 triệu, chiếm 3,82%. Như vậy là, về mặt tỷ lệ, so sánh với 4 nước thuộc loại có kiều dân nhiều vào hạng nhất thế giới đó, VN chỉ sau Trung Quốc.
|
.jpg)
Cộng đồng người Việt tại Mỹ hiện đã lên tới trên 1,5 triệu người.
Ảnh: Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết gặp gỡ Việt kiều Mỹ
trong chuyến thăm Mỹ tháng 6/2007
|
Bước qua đầu thế kỷ XXI, số kiều dân VN vẫn có chiều hướng tăng, tuy không có sự gia tăng đột biến như thời kỳ những năm sau của thập niên 70 thuộc thế kỷ XX. Do vậy, nghiên cứu về NVNONN hiện nay cần đặc biệt lưu ý tới sự diễn biến của sự gia tăng đó.
Vì nhiều lý do chủ quan và khách quan mà việc thu thập tài liệu, số liệu về kiều dân VN suốt nhiều năm qua vẫn chưa có được một con số thật sự chính xác. Nhiều lúc các nguồn thông tin về số lượng kiều dân VN khác nhau rất xa. Khoảng cách các con số có lúc xa nhau tới cỡ xê dịch từ 2 triệu đến 4 triệu; đặc biệt, có lúc, có tài liệu thông báo rằng NVNONN đã lên tới 6 triệu (!).
Kiều dân của bất cứ nước nào cũng có sự biến đổi số lượng theo thời gian. Nhưng với VN thì sự biến đổi số lượng kiều dân trong ba mươi năm qua mang nhiều yếu tố đặc biệt; gắn kết với nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của đất nước và của thế giới. Sự kiện miền Nam VN được hoàn toàn giải phóng vào tháng 4/1975 và những vụ việc phát sinh tiếp theo do sự kiện đó như sự xuất ngoại theo diện Con lai Mỹ (Asian-American Children - AC); theo Chương trình ra đi có trật tự (Orderly Departure Programme - ODP) của Cao Ủy Liên hợp quốc về người tị nạn (United Nations High Commissoner for Refugees - UNHCR) hoặc theo Chương trình dành cho sĩ quan chính quyền Sài Gòn cũ đi cải tạo về (Humanitarian Organization - HO)... cùng với việc xuất ngoại do sự kiện chiến tranh biên giới và vấn đề “nạn kiều”; xuất ngoại và xáo trộn di dân do sự kiện Liên Xô và Đông Âu sụp đổ... Mặt khác, hiện tượng gia tăng số lượng kiều dân VN còn chịu ảnh hưởng không nhỏ từ những biến chuyển xã hội như vấn đề gia tăng xuất khẩu lao động, vấn đề kết hôn với người nước ngoài... Sự thay đổi tổng số lượng kiều dân VN đã phức tạp, nhưng sự thay đổi số lượng kiều dân VN trên từng nước sở tại còn phức tạp hơn nhiều. Tổng hợp nhiều nguồn số liệu thu thập được trong những năm 1994-1995 về kiều dân VN trên 79 nước và vùng lãnh thổ, chúng tôi đã có một con số là 2.643.200 người. Những số liệu này đã được công bố trên các báo chí và đã in trong cuốn sách “Người Việt Nam ở nước ngoài” do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản tại Hà Nội năm 1997. Đó là bảng ghi số lượng kiều dân VN ở nước ngoài giữa thập niên 90 của thế kỷ trước.
.jpg)
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng gặp gỡ cộng đồng người VN
đang làm việc, học tập và sinh sống tại CH Séc, ngày 13/9/2007
|
Sau 10 năm, đương nhiên những con số trong bảng ghi đó đã thay đổi. Bảng ghi dưới đây là kết quả tổng hợp các nguồn số liệu mà chúng tôi nhận được từ đầu năm 2004 đến đầu năm 2005. Các số liệu này được lập sóng đôi với các số liệu của bảng ghi 1994-1995 để phục vụ cho việc tham khảo, so sánh.
SỐ LƯỢNG VÀ SỰ PHÂN BỐ KIỀU DÂN VIỆT NAM
TRÊN THẾ GIỚI TẠI THỜI ĐIỂM 2004-2005
|
Stt
|
Tên nước hoặc
vùng lãnh thổ
|
Số kiều dân VN 1994-1995
|
Chiều hướng tăng, giảm
|
Số kiều dân VN 2004-2005
|
|
1
|
Hoa Kỳ
|
950.000
|
|
1.300.000
|
|
2
|
Pháp
|
400.000
|
¯
|
300.000
|
|
3
|
Úc
|
160.000
|
|
250.000
|
|
4
|
Canada
|
150.000
|
|
200.000
|
|
5
|
Trung Quốc
|
300.000
|
¯
|
180.000
|
|
6
|
Campuchia
|
100.000
|
|
130.000
|
|
7
|
Đài Loan
|
15.000
|
|
120.000
|
|
8
|
Thái Lan
|
120.000
|
¯
|
110.000
|
|
9
|
Đức
|
100.000
|
=
|
100.000
|
|
10
|
Nga
|
100.000
|
=
|
100.000
|
|
11
|
Anh
|
25.000
|
|
40.000
|
|
12
|
Czech
|
18.000
|
|
35.000
|
|
13
|
Lào
|
10.000
|
|
35.000
|
|
14
|
Ba Lan
|
30.000
|
¯
|
25.000
|
|
15
|
Na Uy
|
2.000
|
|
17.000
|
|
16
|
Hà Lan
|
10.000
|
|
15.000
|
|
17
|
Bỉ
|
7.000
|
|
12.000
|
|
18
|
Đan Mạch
|
5.000
|
|
11.500
|
|
19
|
Thụy Điển
|
2.000
|
|
10.000
|
|
20
|
Nhật Bản
|
6.000
|
|
10.000
|
|
21
|
Hàn Quốc
|
5.000
|
|
9.500
|
|
22
|
Ukraina
|
10.000
|
¯
|
8.000
|
|
23
|
Guyana
|
-
|
-
|
8.000
|
|
24
|
Thụy Sỹ
|
5.000
|
|
6.500
|
|
25
|
Phần Lan
|
1.000
|
|
6.000
|
|
26
|
Philippin
|
5.000
|
=
|
5.000
|
|
27
|
New Caledonia
|
-
|
-
|
5.000
|
|
28
|
Macau
|
4.500
|
|
4.579
|
|
29
|
Ý
|
2.000
|
|
3.000
|
|
30
|
Hunggari
|
5.000
|
¯
|
3.000
|
|
31
|
Áo
|
3.000
|
=
|
3.000
|
|
32
|
New Zealand
|
300
|
|
2.412
|
|
33
|
Hong Kong
|
50.000
|
¯
|
2.000
|
|
34
|
Slovakia
|
|
-
|
2.000
|
|
35
|
Bulgaria
|
2.500
|
¯
|
1.000
|
|
36
|
Iceland
|
-
|
-
|
1.000
|
|
37
|
Tây Ban Nha
|
2.000
|
¯
|
1.000
|
|
38
|
Angola
|
-
|
-
|
800
|
|
39
|
Vanuatu
|
-
|
-
|
400
|
|
40
|
Ireland
|
500
|
¯
|
350
|
|
41
|
Rumani
|
1.000
|
¯
|
300
|
|
42
|
Malaysia
|
1.200
|
¯
|
300
|
|
43
|
Ấn Độ
|
2.000
|
¯
|
260
|
|
44
|
Cote d’Ivoire
|
-
|
-
|
253
|
|
45
|
Belarus
|
-
|
-
|
250
|
|
46
|
Litva
|
400
|
¯
|
250
|
|
47
|
Albani
|
2.000
|
¯
|
200
|
|
48
|
Guyana thuộc Pháp
|
-
|
-
|
200
|
|
49
|
Thổ Nhĩ Kỳ
|
2.000
|
¯
|
200
|
|
50
|
Mexico
|
2.000
|
¯
|
200
|
|
51
|
Triều Tiên
|
2.000
|
¯
|
200
|
|
52
|
Singapore
|
2.000
|
¯
|
160
|
|
53
|
Indonesia
|
5.000
|
¯
|
160
|
|
54
|
Algeria
|
1.000
|
¯
|
110
|
|
55
|
Luxembourg
|
500
|
¯
|
100
|
|
56
|
Moldova
|
-
|
-
|
100
|
|
57
|
Uzbekistan
|
-
|
-
|
100
|
|
58
|
Brazil
|
1.000
|
¯
|
100
|
|
59
|
Bồ Đào Nha
|
1.000
|
¯
|
100
|
|
60
|
Marocco
|
500
|
¯
|
100
|
|
61
|
Iraq
|
1.000
|
¯
|
100
|
|
62
|
Madagascar
|
-
|
-
|
100
|
|
63
|
Nam Tư (cũ)
|
1.000
|
¯
|
100
|
|
64
|
Myanmar
|
500
|
¯
|
80
|
|
65
|
Argentina
|
500
|
¯
|
80
|
|
66
|
Saudi Arabia
|
1.000
|
¯
|
57
|
|
67
|
Iran
|
1.000
|
¯
|
53
|
|
68
|
Kenya
|
200
|
¯
|
51
|
|
69
|
Chile
|
500
|
¯
|
50
|
|
70
|
Kazakhstan
|
-
|
-
|
50
|
|
71
|
Bangladesh
|
500
|
¯
|
50
|
|
72
|
Peru
|
500
|
¯
|
50
|
|
73
|
Lebanon
|
-
|
-
|
40
|
|
74
|
Israel
|
200
|
¯
|
40
|
|
75
|
Turkmenistan
|
-
|
-
|
39
|
|
76
|
Mông Cổ
|
500
|
¯
|
35
|
|
77
|
Vatican
|
50
|
¯
|
30
|
|
78
|
Estonia
|
300
|
¯
|
30
|
|
79
|
Papua New Guinea
|
300
|
¯
|
30
|
|
80
|
Cuba
|
2.000
|
¯
|
25
|
|
81
|
Nam Phi
|
-
|
-
|
23
|
|
82
|
Hy Lạp
|
700
|
¯
|
20
|
|
83
|
Jordania
|
200
|
¯
|
20
|
|
84
|
Kyrgyzstan
|
-
|
-
|
20
|
|
85
|
Latvia
|
100
|
¯
|
20
|
|
86
|
Liechtenstein
|
100
|
¯
|
20
|
|
87
|
Pakistan
|
1.000
|
¯
|
20
|
|
88
|
San Marino
|
100
|
¯
|
20
|
|
89
|
Senegal
|
-
|
-
|
20
|
|
90
|
Paraguay
|
-
|
-
|
16
|
|
91
|
Haiiti
|
-
|
-
|
15
|
|
92
|
Guam
|
-
|
-
|
15
|
|
93
|
Brunei
|
-
|
-
|
12
|
|
94
|
Monaco
|
100
|
¯
|
10
|
|
95
|
Libya
|
100
|
¯
|
10
|
|
96
|
Colombia
|
500
|
¯
|
10
|
|
97
|
Andorra
|
100
|
¯
|
10
|
|
98
|
Yemen
|
-
|
-
|
10
|
|
99
|
Ai Cập
|
1.000
|
¯
|
10
|
|
100
|
Nepal
|
100
|
¯
|
10
|
|
101
|
Congo
|
-
|
-
|
10
|
|
102
|
CH Trung Phi
|
-
|
-
|
10
|
|
103
|
Tanzania
|
-
|
-
|
10
|
|
104
|
Ecuador
|
-
|
-
|
8
|
|
105
|
Kuwait
|
100
|
¯
|
7
|
|
106
|
Syria
|
-
|
-
|
5
|
|
107
|
Malta
|
-
|
-
|
5
|
|
108
|
Panama
|
-
|
-
|
3
|
|
Tổng cộng
|
2.643.650
|
|
3.078.143
|
Khi hình thành được con số hơn 2,6 triệu người VN đang kiều cư trong gần 100 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới hồi 1994-1995, chúng tôi đã đưa ra thông tin dự báo rằng “con số đó đang nhích lên khá nhanh từ 2,6 triệu đến 3 triệu” trong những năm từ 1996 đến đầu thế kỷ mới. Con số tổng hợp được về tổng số lượng kiều dân VN năm 2004-2005 là 3.078.143 trên lãnh thổ của 108 nước và vùng lãnh thổ đã chứng tỏ rằng dự báo đó là khá chính xác - khá chính xác cả về mặt xu hướng gia tăng, cả về số lượng gia tăng.
|
.jpg)
Đoàn công tác của UBNVNONN do Thứ trưởng Nguyễn Phú Bình dẫn đầu
gặp gỡ trí thức kiều bào làm việc tại Ngân hàng Thế giới (tháng 10/2004)
|
Để hình dung rõ hơn ý nghĩa của con số 3.078.143 này, xin được lưu ý rằng ở thời điểm giữa năm 2004 có 72 nước và vùng lãnh thổ có số dân ít hơn tổng số NVNONN; có 58 nước và vùng lãnh thổ có số dân bằng hoặc ít hơn tổng số người VN tại Hoa Kỳ (1.300.000); có 34 nước và vùng lãnh thổ có số dân ít hơn tổng số người VN tại Pháp (300.000); có 27 nước và vùng lãnh thổ có số dân bằng hoặc ít hơn số người VN tại Úc (250.000) và Canada (200.000); có 16 nước và vùng lãnh thổ có số dân ít hơn số người VN tại Trung Quốc (180.000), tại Campuchia (130.000), tại Đài Loan (120.000), tại Thái Lan (110.000), tại Đức (100.000) hoặc tại Nga (100.000).
Sự gia tăng số lượng NVNONN trong lịch sử, đặc biệt là những đợt gia tăng lớn, thường gắn với những sự kiện không vui của đất nước, của dân tộc: hậu quả của chiến tranh, của nghèo đói, của những bất ổn về chính trị, kinh tế, xã hội... ở trong nước. Nhưng, trong hơn một thế kỷ nay dường như NVNONN đã dần dần chuyển cái thực tế không vui đó thành hiện thực đáng mừng: ổn định việc kiều cư hữu hảo và thích nghi nhanh chóng với đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội... của nhân dân các nước sở tại; nuôi dưỡng và phát triển trong cộng đồng kiều dân VN ý thức luôn hướng về đất mẹ, hướng về dân tộc. Đó là một trong những thành tựu lớn nhất, căn bản nhất của kiều bào – một bộ phận không thể tách rời của dân tộc VN mà nay đã lên tới hơn 3 triệu người, đông hơn tổng dân số của mỗi một trong 72 quốc gia và vùng lãnh thổ của thế giới; đang có 10 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới ngày nay mà số kiều dân VN trong mỗi nước đó là nhiều hơn tổng số dân của mỗi một trong số 27 nước hoặc vùng lãnh thổ của thế giới hiện đại. Càng đông người VN kiều cư ở nước ngoài, càng phải tăng cường hơn nữa sức mạnh hướng về Tổ quốc VN; càng nhiều nước có người VN kiều cư, càng phải tăng cường hơn nữa tình hữu nghị giữa VN với cộng đồng quốc tế. Đó là lẽ sống, là cơ sở để tồn tại, để phát triển của tất cả bà con kiều bào – những người luôn ý thức rằng mình là “máu của máu VN, thịt của thịt VN”.
Xem xét cụ thể hơn các số lượng kiều dân VN của từng nước và vùng lãnh thổ sở tại, so sánh các số lượng đó giữa hai thời điểm 1994-1995 và 2004-2005 chúng ta có thể có được nhiều kết quả bổ ích. Chẳng hạn, về xu hướng nhập cư có sự giảm bớt ở 54 nước và vùng lãnh thổ, trong đó có 43 nước và vùng lãnh thổ giảm mạnh. So với 10 năm trước số người VN ở 43 nước này chỉ còn lại từ 30% trở xuống. Đặc biệt có 30 nước và vùng lãnh thổ mà so với 10 năm trước, số người VN ở đây còn lại chỉ từ 10% trở xuống. Đáng chú ý hơn, có 7 nước và vùng lãnh thổ trong 10 năm qua số kiều dân VN giảm rất mạnh chỉ còn từ 5% trở xuống.
Về số lượng kiều dân VN tăng đáng kể trong 20 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới trong 10 năm qua được diễn biến theo thứ tự như sau: (1) ở Mỹ tăng 350.000 người; (2) ở Đài Loan tăng 105.000 người; (3) ở Úc tăng 90.000 người; (4) ở Canada tăng 50.000 người; (5) ở Campuchia tăng 30.000 người; (6) ở Lào tăng 25.000 người; (7) ở Czech tăng 17.000 người; (8) ở Anh tăng 15.000 người; (9) ở Na Uy tăng 15.000 người; (10) ở Thụy Điển tăng 8.000 người; (11) ở Đan Mạch tăng 6.500 người; (12) ở Hà Lan tăng 5.000 người; (13) ở Bỉ tăng 5.000 người; (14) ở Phần Lan tăng 5.000 người; (15) ở Hàn Quốc tăng 4.500 người; (16) ở Nhật Bản tăng 4.000 người; (17) ở New Zealand tăng 2.112 người; (18) ở Thụy Sỹ tăng 1.500 người; (19) ở Ý tăng 1.000 người; (20) ở Macau tăng 79 người.
|
.jpg)
Lễ thành lập Hội người Việt Nam vùng Kan-sai (Nhật Bản) ngày 24/8/2008
|
Từ thực tế về sự tăng, giảm số kiều dân VN trên các nước và vùng lãnh thổ được ghi nhận trên đây có thể có những nhận xét như sau:
1. Sự tăng, giảm số lượng kiều dân còn mang tính truyền thống: Đó là sự gia tăng số lượng kiều bào VN tại các nước láng giềng gần gũi nhất. Sau thời gian chiến tranh và sau nhiều ảnh hưởng của các sự cố đột biến khác từ hậu quả của các cuộc xung đột vùng, mối quan hệ VN - Lào - Campuchia đã trở lại ổn định, nhờ đó việc di cư, định cư trở lại bình thường là điều rất đáng mừng. Nhìn rộng thêm ra 7 nước Đông Nam Á khác ta thấy: ngoài số người VN ở Philippin không giảm cũng không tăng và ở Brunei mới biết được thông tin là có 12 người VN cư ngụ, còn ở 5 nước khác thì 10 năm qua số kiều dân VN đều giảm bớt. Cụ thể như sau: ở Indonesia giảm 96,80%; ở Singapore giảm 92,00%; ở Myanmar giảm 84,00%; ở Malaysia giảm 75,00% và ở Thái Lan giảm 8,33%. Phải chăng thực tế này cho chúng ta một thông báo rằng, mặc dầu 10 năm qua quan hệ đoàn kết, hữu nghị giữa các nước Đông Nam Á được củng cố và mở rộng rất nhiều, nhưng song song với điều đó lại đã có không ít những hiện tượng, những sự kiện khác ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển việc kiều cư của người VN. Chẳng hạn như các chính sách chặt chẽ của một số nước trong việc tiếp nhận người nhập khẩu lao động hay những biến động về xung đột tôn giáo, về nạn khủng bố, về họa thiên tai?
2. Sự giảm (¯) đồng loạt của số lượng kiều dân VN ở các nước trước đây thuộc khối xã hội chủ nghĩa Liên Xô - Đông Âu như: Nga (=) , Ba Lan (¯), Ukraina (¯), Hunggari (¯), Bulgaria (¯), Rumani (¯), Estonia (¯), Litva (¯), Albani (¯), Nam Tư (¯), Latvia (¯) là dễ hiểu. Hầu hết ở các nước nhỏ thuộc khu vực này số lượng kiều dân VN đều giảm. Riêng ở Nga thì vẫn giữ nguyên số lượng cũ. Ở Czech và Slovakia (Tiệp Khắc trước đây) có tăng; ở Đức, bao gồm Tây và Đông Đức trước đây, vẫn giữ số lượng kiều dân VN như 10 năm về trước. Tất cả những thực tế tăng, giảm đó một phần chứng tỏ rằng sự xáo trộn việc kiều cư của người VN ở khu vực này do sự biến “sụp đổ” đã dần dần qua đi. Mục đích kiều cư thay đổi từ kiều cư chủ yếu là để học tập, lao động xuất khẩu... đến kiều cư tự do để làm ăn, sinh sống cá thể là chính, đã được chấp nhận và dần dần có xu thế ổn định mang tính bền vững. Một số lớn kiều bào ở đây có nhu cầu chuyển sang làm ăn, sinh sống ở phương Tây mà trước hết là tạm cư qua Czech rồi qua Đức, một thời đã gặp nhiều khó khăn về mặt thủ tục xuất nhập cảnh, thủ tục xác nhận quốc tịch, xác nhận phép cư trú, phép sản xuất, buôn bán, làm ăn... cho đến nay cũng dần dần được giải quyết theo hướng ổn thỏa. Điều đó chứng tỏ một phần hiệu quả của công tác tổ chức, vận động kiều bào tại đây; chứng tỏ các đường lối, chủ trương, chính sách của VN trên lĩnh vực này đã đem lại kết quả khả quan.
|
.jpg)
Trang trại trồng rau của người Việt tại CH Czech
|
3. Nhân vừa nhắc đến một số nước Tây-Bắc Âu và các nước trước đây vốn là các nước cộng hòa thuộc Liên bang Xô-viết, thấy cần nhìn lại sự thay đổi số lượng kiều dân VN tại cả vùng này. Trong vùng này ngoài quần đảo nhỏ bé Chanel Islands với diện tích chỉ 200 cây số vuông, còn lại 10 nước. Tại 10 nước này, trong 10 năm qua số kiều dân VN giảm, ngoài Ireland giảm từ 500 xuống còn 350 kiều dân VN, còn lại 3 nước bị giảm khác lại chính là 3 nước trước đây thuộc Liên Xô: ở Litva giảm từ 400 xuống còn 250; ở Estonia giảm từ 300 xuống chỉ còn có 30; ở Latvia giảm từ 100 xuống chỉ còn lại 20(!). Trong khi đó chính tại cái miền giá lạnh khủng khiếp đối với người dân từ vùng nhiệt đới VN này, 10 năm qua lại đã tăng vọt số kiều dân VN: ở Anh tăng thêm 15.000; ở Na Uy tăng thêm 5.000; ở Đan Mạch tăng thêm 6.500; ở Thụy Điển tăng thêm 8.000; ở Phần Lan tăng thêm 5.000; ở Iceland mới biết thêm là có 1.000 người VN cư ngụ... Cần có một sự nghiên cứu kỹ càng, đầy đủ hơn về sự tăng, giảm số người VN kiều cư tại những nước này, nhưng trước mắt hãy xem sự tăng vọt số kiều dân VN tại đây như là một sự kiện đáng mừng, như là một thành công của bà con kiều bào trong việc phát hiện ra một vùng đất tuy khắc nghiệt về khí hậu, nhưng ở đó có những dân tộc thích hợp để cùng người VN làm ăn, sinh sống... mà nhiều thập kỷ, nhiều thế kỷ trước kiều dân VN chưa biết đến.
|
.jpg)
Tết Việt ở Magdeburg - Đức
|
4. Đáng chú ý nhất, đồng thời cũng cần đặc biệt quan tâm để tìm hiểu sâu hơn, nghiên cứu kỹ hơn là những số liệu tăng, giảm kiều dân VN trong 10 năm qua tại 8 nước và vùng lãnh thổ thuộc vùng Đông Á. Số lượng tăng, giảm đó diễn biến cụ thể như sau: ở Trung Quốc giảm 120.000; ở Hong Kong giảm 48.000; ở Triều Tiên giảm 1.800; ở Mông Cổ giảm 465. Trong khi đó ở Đài Loan tăng 105.000; ở Hàn Quốc tăng 4.500; ở Nhật Bản tăng 4.000; ở Macau tăng 79 kiều dân VN.
Ai và như thế nào thì mới có thể gọi là “người VN ở Trung Quốc” vẫn chưa có những tiêu chí thật rõ ràng để xác định. Cho nên, các số liệu về người VN kiều cư tại Trung Quốc hiện nay có thể cách biệt nhau rất xa. Sự gia tăng đột biến số lượng kiều dân VN tại Đài Loan và Hàn Quốc thì có thể được giải thích là trong 10 năm qua hiện tượng phụ nữ VN lấy chồng người Hàn Quốc và đặc biệt là người Đài Loan quá nhiều. Có nguồn tin cho biết: trong 10 năm qua có tới hơn 4.000 phụ nữ VN lấy chồng Hàn Quốc và có hơn 80.000 phụ nữ VN lấy chồng Đài Loan; còn người VN xuất khẩu lao động sang Đài Loan thì có gần 30.000. Thực tế diễn ra mang tính đột biến như thế rất cần được xem xét kỹ từ nhiều khía cạnh về mặt tâm lý, xã hội cũng như về chủ trương, chính sách... để có được những định hướng thật hợp lý về các vấn đề đó trong tương lai. Sự giảm sút từ 50.000 xuống chỉ còn 2.000 kiều dân VN tại Hong Kong trong 10 năm qua thì có thể giải thích được. Đó là do sự giải tỏa cả một loạt “trại tỵ nạn” là hậu quả của chiến tranh, của sự xung đột quân sự trong quá khứ. Ngày nay Hong Kong đã trở về lại với Trung Quốc, thiết tưởng lập lại việc kiều cư bình thường mang tính truyền thống của người VN tại vùng lãnh thổ này phải là ý nguyện và thiện chí từ tất cả các phía hữu quan. Riêng sự gia tăng người VN kiều cư tại Nhật Bản từ 6.000 lên 10.000 thì cần xem đó như là một tín hiệu tốt. Cư ngụ, làm ăn, sinh sống hòa hợp được với hơn 127 triệu dân Nhật Bản đầy sáng tạo và tân tiến, hy vọng kiều bào ta ở đây sẽ thu được cho mình những kết quả khả quan về nhiều mặt, đóng góp đáng kể hơn cho đất nước quê hương cũng như cho nước sở tại.
5. Tại 18 nước Tây Á và 14 nước Trung Nam Á trong 10 năm qua đã xảy ra nhiều sự bất ổn: xung đột quân sự, khủng bố, thiên tai... Những điều này ảnh hưởng rất lớn đến công cuộc làm ăn, sinh sống của kiều bào ta. Cho đến nay mà vẫn còn một số lượng bà con kiều bào với chiều hướng tăng, giảm so với 10 năm trước như ở bảng ghi dưới đây kể cũng đã có thể xem như là một thành quả rất đáng ghi nhận về khả năng của kiều bào trong nỗ lực thích nghi với vô vàn khó khăn, gian khổ ở hoàn cảnh của các nước sở tại.
Tây Á chỉ ở 9 nước sau đây có kiều dân VN cư ngụ:
|
Stt
|
Tên nước hoặc
vùng lãnh thổ
|
Số kiều dân VN 1994-1995
|
Chiều hướng tăng, giảm
|
Số kiều dân VN 2004-2005
|
|
1
|
Iraq
|
1.000
|
¯
|
100
|
|
2
|
Israel
|
200
|
¯
|
40
|
|
3
|
Jordania
|
200
|
¯
|
20
|
|
4
|
Kuwait
|
100
|
¯
|
7
|
|
5
|
Libanon
|
-
|
-
|
40
|
|
6
|
Saudi Arabia
|
1.000
|
¯
|
57
|
|
7
|
Syria
|
-
|
-
|
5
|
|
8
|
Thổ Nhĩ Kỳ
|
2.000
|
¯
|
200
|
|
9
|
Yemen
|
-
|
-
|
10
|
Trung Nam Á cũng chỉ ở 8 nước sau đây có kiều dân VN cư ngụ:
|
Stt
|
Tên nước hoặc
vùng lãnh thổ
|
Số kiều dân VN 1994-1995
|
Chiều hướng tăng, giảm
|
Số kiều dân VN 2004-2005
|
|
1
|
Bangladesh
|
500
|
¯
|
50
|
|
2
|
Iran
|
1.000
|
¯
|
53
|
|
3
|
Kazachstan
|
-
|
-
|
50
|
|
4
|
Kyrgyzstan
|
-
|
-
|
20
|
|
5
|
Nepal
|
100
|
¯
|
10
|
|
6
|
Pakistan
|
1.000
|
¯
|
20
|
|
7
|
Turkmenistan
|
-
|
-
|
39
|
|
8
|
Uzbekistan
|
-
|
-
|
100
|
|
.jpg)
Lễ thành lập Trung tâm xúc tiến Thương mại và Đầu tư của Việt kiều ở Ba Lan
|
6. Bắc Mỹ có hai nước là Canada và Hoa Kỳ. Tại hai nước này trước đây vốn đã có nhiều người VN cư ngụ, trong 10 năm qua ở đây lại là nơi kiều dân VN gia tăng thuộc loại nhiều nhất: ở Canada tăng từ 150.000 lên 200.000, ở Hoa Kỳ tăng từ 950.000 lên 1.300.000. Như vậy là tổng số kiều dân VN tại hai nước Bắc Mỹ đã chiếm ngót 1/2 tổng số kiều dân VN trên toàn thế giới. Nhìn từ nhiều phía, số kiều dân VN tăng lên ở đây mà rõ nhất là số 350.000 người tăng lên tại Hoa Kỳ trong 10 năm qua có những nét giống, nhưng cũng có rất nhiều nét khác so với số người VN đã định cư ở đây trước năm 1945, trước năm 1954, trước năm 1975 và khác ngay cả với số người VN định cư tại Mỹ trước năm 1995. Con số 350.000 kiều dân VN mới tăng thêm tại Hoa Kỳ trong 10 năm qua phần lớn là nhập cư không phải vì những lý do liên quan đến hậu quả của cuộc chiến tranh Mỹ - Việt thời 1954 - 1975 mà là sự nhập cư chủ yếu vì những lý do tìm vùng đất thích hợp để làm ăn, sinh sống, học tập, công tác... Nhập cư vào Hoa Kỳ, và cả vào Canada nữa, trong thời gian 10 năm vừa qua là sự nhập cư tự nguyện, nhập cư với nhu cầu của bản thân và theo những cơ sở pháp lý càng ngày càng minh bạch hơn của chính quyền từ cả hai phía. Điều này nói lên một phần rất lớn kết quả những thiện chí của Nhà nước VN và của các chính quyền Hoa Kỳ thời hậu chiến VN trong việc hàn gắn những rạn nứt của quá khứ, hướng về tương lai sáng và đẹp vốn tiềm ẩn trong ý nguyện của nhân dân VN cũng như của nhân dân Mỹ, nhân dân Canada. Hoa Kỳ là nơi mà kiều dân VN được sống tập trung với nhau thành những quần cư đông đúc. Điều đó tạo cho kiều bào rất nhiều thuận lợi trong sinh sống, làm ăn. Hàng rào ngôn ngữ không là trở ngại quá to lớn đối với những lớp kiều dân VN chưa có hoặc không có điều kiện để hiểu biết thông thạo ngôn ngữ nước sở tại trong giao tiếp để làm ăn, sinh sống ở đây. Sống trong những quần cư đông đúc toàn người VN là rất thuận lợi để cho các thế hệ nối tiếp, kể cả các thế hệ con lai giữ được ngôn ngữ gốc của VN. Bản sắc dân tộc, phong tục, tập quán... VN, cũng nhờ sống thành các quần cư đông đúc toàn người VN với nhau như vậy mà có nhiều cơ may được bảo tồn, phát triển. Với những suy nghĩ đó, chúng ta mừng cho cộng đồng người VN tại Hoa Kỳ trong 10 năm vừa qua đã có thêm 350.000 đồng bào cùng kiều ngụ.
7. Vùng Caribean thuộc Châu Mỹ có 17 nước và vùng lãnh thổ, trong đó chỉ có 2 nước được biết chắc là có kiều dân VN cư ngụ. Từ trước năm 1994 mới chỉ biết là có 2.000 người VN kiều cư tại Cuba, đến nay tại Cuba chỉ còn lại 25 người VN, đồng thời mới biết thêm là có 15 người VN nữa ở Haiiti. Như vậy, hơi đáng tiếc là nay chỉ có vỏn vẹn 40 người VN kiều cư trên cả một vùng đất rộng hơn 235 ngàn cây số vuông, tuy xa VN nhưng là vùng đất hứa hẹn về những mối liên kết nhiều mặt quan trọng thuộc mọi lĩnh vực trong tinh thần hữu nghị đặc biệt, như là hữu nghị Cuba |