|
|
|
|
Viết cho Quê Hương
|
|
| Thứ sáu, 27/01/2012, 10:10:18 AM | | | | Mùa Tết, nhớ lại những con đường | | | Ý kiến của bạn | Gửi tin qua E-mail | Bản để in | | | | Đất nước kêu gọi, và chúng tôi đã đáp lời hưởng ứng. Tự nhiên như người ta hít thở để sống. Trong bạn bè chung quanh tôi, ai ai cũng an nhiên phục vụ đất nước như vậy... Ngày ký kết Hiệp định Paris năm 1973, tôi đến Hội trường Kleber bằng xe điện ngầm. Hôm ấy, nhiệm vụ của tôi là đi dịch cho Đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (CPCMLT).
Đương rảo bước về chỗ anh chị em Đoàn Việt Nam thì mấy tay cảnh sát Pháp chặn tôi lại và hướng tôi về phía đoàn Việt Nam Cộng hòa (VNCH), lúc đó chúng tôi gọi là đoàn Sài gòn. Đương tranh cãi thì một anh trong đoàn ta chạy ra, kéo tôi đi với anh. Thấy tôi có dáng bực tức, anh cười bảo: Chúng nó hiểu nhầm thôi, giận làm gì cho mất vui ngày lịch sử này. Tại nó thấy cậu ăn mặc diện quá, có nghĩ đâu là Việt Cộng…
Quả thật thì chúng tôi, những người Việt Nam sống tại Pháp và được tham gia vào hoạt động của phái đoàn, có điều kiện kinh tế khá hơn anh chị em trong nước. Anh Nguyễn Ngọc Giao, thông dịch cho đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) và tôi cùng là trợ giáo Đại học Paris, anh Giao dạy toán, tôi dạy kinh tế. Nghề giáo, ở đâu cũng vậy, không phải là nghề nhiều tiền, tuy nhiên so với trong nước thì tụi tôi đúng là giàu. Riêng phần tôi thì nhân dịp ông bà thân sinh sang Pháp chơi, các cụ cho tôi một bộ quần áo đo theo cỡ người chứ không phải đi mua sẵn. Tôi mặc chính bộ complet ấy đi phục vụ Hội nghị, và từ đó xảy ra tranh cãi với cảnh sát và một trận cười trong Đoàn… Ở cái thời xa xưa ấy, cán bộ ngoại giao ta đi công tác nước ngoài thường phải mượn Bộ Tài chính quần, áo và giầy, cái thứ giầy đến khí hậu khô khô một tí thì co lại, tối đến về nhà xoa chân phát mệt.
|

Toàn cảnh Hội nghị Paris
|
Về Hội nghị Paris, tôi chỉ nhớ hôm ấy ca-bin rất nóng và ngộp. Thường thì có hai phiên dịch, ngày ấy có bốn người, một của đoàn VNCH, một của đoàn CPCMLT và hai của đoàn VNDCCH. Chủ yếu là dịch Pháp/Việt, vì từ tiếng Anh đã có phiên dịch của Liên Hợp quốc. Bọn tôi đều là nghiệp dư và đây là lần đầu dịch ca-bin. Hai anh trong đoàn VNDCCH tiếng Việt giỏi hơn chúng tôi rất nhiều. Tôi và anh phiên dịch VNCH nói tiếng Pháp thì khá, nhưng dịch từ tiếng Pháp ra tiếng Việt thì yếu. Có một lúc, anh phiên dịch đoàn VNCH không dịch kịp lời phát biểu tiếng Pháp của Đoàn anh, quay sang nhờ anh Giao dịch hộ. Với thái độ rất nghề nghiệp, anh Giao nhận lời. Chiều đó, khi tan Hội nghị, anh Giao được nhắc là khi Đoàn VNCH nói chính phủ VNCH, tại sao không sửa là chính quyền Sài gòn (như văn kiện của ta thường dùng)? Anh Giao lắc đầu và cười: Thật ra đó là phản xạ của nhà nghề, không chữa những điều mình đang dịch.
Từ hai câu chuyện trên, bộ quần áo sang hơn cả quần áo của Trưởng đoàn, “Tây con” (là cách Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình gọi tôi khi đang phục vụ trong Phái đoàn) đi phục vụ Cách mạng, tôi đã nhiều lần suy nghĩ đến các nẻo đường đưa chúng tôi đến với cuộc kháng chiến của dân tộc. Tháng qua, nhân dịp phương Tây đánh dấu 50 năm can thiệp của Mỹ vào Việt Nam, tôi viết một bài nói lên tâm tư này và được chính anh Giao dịch lại và đăng trong tạp chí điện tử Diễn đàn ở Pháp. Dưới đây xin trích lại những đoạn chính để bạn đọc hiểu thêm về một bộ phận của cộng đồng dân tộc sống xa Tổ quốc.
***
Đối với những anh chị em cùng thế hệ với tôi, cuộc đời trưởng thành – cuộc đời mà mỗi người phải chịu trách nhiệm về chính mình – là cuộc đời bị chiến tranh chế ngự, tới mức không còn phân được cuộc sống và chiến tranh, một cuộc đời mà trong đó, mọi suy nghĩ hay không suy nghĩ, đều dính dấp đến chiến tranh. Nói khác đi, chiến tranh không phải là cái dấu ngoặc giữa hai thời gian hòa bình. Chiến tranh là chính cuộc sống… Trong lứa bạn bè học sinh trung học của tôi (trường Yersin), thì những người mà gia đình có khả năng, đều theo học ở các trường đại học Pháp, Anh, Úc hay Mỹ, nhất là ngay từ năm 1960, khi các bên khẩn trương chuẩn bị chiến tranh. Những ai không có phương tiện thì chỉ còn một con đường là nhập ngũ. Thế hệ của tôi, hồi ấy, tôi không nhớ có ai gia nhập hàng ngũ kháng chiến, lúc đó người ta gọi là Việt Cộng.
Chiến tranh từ những năm 1961-1965 bắt chúng tôi phải ý thức hơn nữa về thời cuộc và kết luận là giờ lựa chọn đã điểm, một sự lựa chọn không nhất thiết là đoạn tuyệt triệt để, nhưng phải phù hợp với những gì mà chúng tôi coi là những giá trị cơ bản. Cuộc chiến tranh đang diễn ra trước mắt chúng tôi không chỉ là cuộc giao tranh giữa hai lực lượng đối nghịch. Cuộc chiến tranh đã đảo lộn cuộc đời chúng tôi, thay đổi nếp sống, thay đổi những giá trị truyền thống cũng như tương lai của chúng tôi, một tương lai ngày càng bất trắc. Ngày nay nhìn lại, có thể nói rằng cuộc chiến tranh ấy, với chuỗi dài những khổ đau mất mát (mất đi những người thân, và mất đi cả những ảo tưởng), đã cưỡng bức, đã ném chúng tôi vào cuộc toàn cầu hóa.
Trong gia đình tôi, chính trị là một cuộc chơi giữa bạn bè, đồng minh hay đối thủ, nhưng là một thú chơi nhàn tản của giới thượng lưu. Quan niệm ấy cũng có cái hay vì nó cho phép nhìn chính trị với một khoảng cách nhất định, xa lạ với đam mê chính trị, và mở ra khả năng nhìn người, nhìn việc với tinh thần khoan dung. Mãi về sau này tôi mới cảm nhận được giá trị, sau những năm làm việc cho Liên Hợp quốc. Cũng phải nói thêm là sự thiếu vắng đam mê kiểu "phe phái ăn thua đủ" này, một phần là do nếp giáo dục (để cho tình cảm lấn át tràn lan là một điều bị coi là hết sức dở), phần nữa là vì bản thân dòng họ của chúng tôi cũng chia hai phe. Anh em họ, chú bác tôi nhiều người đã cầm súng chiến đấu, ở bên này hay bên kia. Cuộc chiến tranh kéo dài suốt mấy thập niên, não trạng đối đầu dường như cũng lắng xuống, nhường chỗ cho sự cảm thông, chấp nhận duyên nghiệp theo quan niệm của đạo Phật.
Khi từ Lausanne (Thụy Sĩ) chuyển sang học ở Pháp, tôi đến với phong trào yêu nước. Diễm phúc của tôi là trong phong trào ấy, tôi đã được gặp và kết thân với những đầu óc ưu tú nhất của giới Việt Nam ở nước ngoài. Nhờ họ, tôi có dịp suy nghĩ về nền văn hóa “tự phát” mà tôi mang trong người, về cái bản sắc dân tộc thường được coi là bất di bất dịch mà thực ra vẫn thiên biến vạn hóa, theo dòng lịch sử, theo từng hoàn cảnh. Điều chắc chắn, là trong sự phong phú muôn vẻ của giới tham gia phong trào này, tôi củng cố một lần nữa niềm tin vào những quyết định của mình. Niềm tin ấy, cho đến ngày hôm nay vẫn nguyên vẹn - là không có sự chọn lựa nào khác!
Đất nước kêu gọi, và chúng tôi đã đáp lời hưởng ứng. Tự nhiên như người ta hít thở để sống. Trong bạn bè chung quanh tôi, ai ai cũng an nhiên phục vụ đất nước như vậy. Và khi có dịp quan sát phía đối diện, những người mà chúng tôi coi là đối phương vì họ là đồng minh của ngoại bang, ở nhiều người, tôi cũng thấy có thái độ mẫn cán vì công việc và nhiệm vụ. Cố nhiên, quan niệm về chiến tranh chính nghĩa và phi nghĩa giữa chúng tôi và họ, khác nhau.
Một thí dụ nhỏ: Ông anh họ tôi- đại tá, ông anh rể tôi- đại tá, là thành viên của đoàn VNCH. Hai anh thỉnh thoảng cũng đến tôi ăn cơm. Và không tranh luận về những công viêc của từng người. Ngày nay, nhìn lại và suy nghĩ về những cuộc gặp gỡ bên lề cuộc hội nghị có ý nghĩa trọng đại đối với đất nước, thì kết luận đầu tiên mà tôi rút ra là: Xét cho cùng, gia đình - văn hóa - lịch sử và sự thương mến lẫn nhau, tóm lại một chữ là “dân tộc”, vượt qua mọi hàng rào chiến tranh. Ai đó từng nói là thương hại người nào phải chọn lựa giữa tình bạn và tình yêu tổ quốc. Thú thực là tôi không hiểu thấu sự thương hại đó, bởi yêu nước cũng là yêu sự cao cả của đất nước, mà thử hỏi có gì cao cả hơn là lòng khoan dung hào hiệp?
Rút ra từ cuộc đời, từ những công vụ ở nhiều nơi trên thế giới, tôi cảm nhận là rốt cuộc, sự đam mê vì dân chủ, với tất cả hàm ý công lý, tự do và bình đẳng (một hình thái khác của công lý) của khái niệm dân chủ, chỉ tồn tại và chỉ có thể tồn tại như là sản phẩm của đam mê vì độc lập, tự chủ - những quyền cơ bản mà ngày nay dân tộc chúng ta đã giành được. Dân tộc này có lịch sử của nó và tôi là một thành phần của dân tộc, của lịch sử dân tộc, với những giấc mơ và những cơn ác mộng. Một khi đã chấp nhận điều cơ bản đó rồi, người ta cũng có thể tự đảm nhiệm như một người kháng chiến, như một thành viên có kỉ luật của cuộc kháng chiến và đồng thời như một người trí thức sáng suốt thấy rõ những ràng buộc của hiện thực thế giới. Sự hài hòa của cuộc sống, là biết chấp nhận quá khứ - không thể nào thay đổi được nữa - và chuẩn bị tương lai, bất khả xác định nhưng còn để mở, bởi vì tương lai từng lúc vẫn tùy thuộc vào quyết định của chúng ta.
Những con đường dẫn tới kháng chiến, những con đường hướng về đất nước đã nuôi dưỡng chúng tôi, đã cho chúng tôi ước mơ, đã làm chúng tôi đau đớn… Có vô số những con đường ấy. Chọn con đường nào là tùy những trải nghiệm cá nhân, tuỳ những cuộc gặp gỡ ngẫu nhiên, hay những "vi quyết định" của mỗi người. Ba mươi bảy năm sau chiến tranh, tôi không chắc là các vết thương đều đã được hàn gắn, đã lành lặn. Nhưng tôi chắc chắn rằng, ít nhất tôi tin tưởng, thiết tha, rằng những con đường ấy còn rộng mở cho mọi người, và mọi người - bên này hay bên kia, bạn bè hay đồng minh - hãy dấn thân để tìm thấy sự an lạc và nảy nở phát huy cho chính mình.
Nguyễn Hữu Động (Mexico) | | | |
|
|
|
|
|
| | Ánh nắng vàng như mật ong, bông hoa mịn màng tươi mát, gió mang theo hương thơm ngọt dịu, bầu trời một màu xanh thẳm - đó là sắc màu và hương vị của Xuân nhưng vẫn còn là khiếm khuyết, nếu không nhắc đến "lãng tử mùa Xuân". | | |
| | Sapa “rung động” tâm hồn người xa xứ | | | ... Sapa gần mà xa, dịu dàng và thuần khiết, vẻ đẹp hoang sơ và mộc mạc này sẽ mãi đậm sâu trong tâm trí, trong lòng những người con xa xứ.
| | |
| | Một năm đã trôi đi, một năm trở lại với cuộc sống của một người con xa xứ, nhưng trái tim tôi vẫn đau đáu hướng về ngày Giỗ Tổ, hướng về nơi nguồn gốc con Rồng, cháu Tiên, hướng về cội rễ quê hương – nơi tuổi thơ tôi gắn liền với những rặng tre, bến nước, con đò, với những bài thơ, bài ca dao bất hủ, với những điệu hò man mác mỗi chiều buông tím... Nhớ vô cùng, Việt Nam ơi!
| | |
| | Khi cây lên bông - như vũ trụ lên đèn, người trong thành phố say đắm chiêm ngưỡng vẻ đẹp của bông, xuyên qua ánh nắng Xuân, các nàng bông thật yêu kiều, hồn người lâng lâng như say men rượu. Xuân và bông không thể thiếu nhau. Cha đã đem cả mùa Xuân đặt tên cho tôi, vì vậy tôi phải là bông của Mẹ, dù ở lứa tuổi nào tôi vẫn thích là nụ bông của Mẹ - một nụ bông có nhuỵ mang hương thơm tình người. | | |
| | Cảm xúc Đêm thơ Nguyên tiêu lần thứ Nhất tại Kharkov | | | Những nhà thơ cộng đồng, những người yêu mến văn học nghệ thuật đã quy tụ dưới mái nhà ấm áp – đó là thư viện “làng Thời đại” (Kharkov, Ucraina) để chia sẻ tình yêu văn học nghệ thuật trong Đêm thơ đầy ý nghĩa này... | | |
|
|
|
| | Paris trong ký ức sương mù | | |
...Tôi đưa ba tôi ra khỏi quán ăn, đi dọc theo bờ sông Seine trắng mờ trong sương mù buổi tối. Ông đã nhìn thật lâu theo dòng nước chảy chậm và êm đềm, như muốn thả trôi hết theo dòng nước đó những muộn phiền và tủi nhục của một thời xưa cũ...
| | |
| | Mơ ước Xuân đoàn tụ trên quê hương | | | Nỗi buồn phải ăn Tết xa quê còn lắng đọng trong tôi với những cảm xúc trong đêm trừ tịch viễn xứ. Tôi nhớ lại những cái Tết khi còn ở quê hương đã đi qua và đọng lại... Ước gì một ngày nào đó mình được trở về quê hương ăn Tết…
| | |
| | Chợ Noel này làm tôi liên tưởng đến chợ hoa ngày Tết ở Hà Nội, xuyên suốt con phố Hàng Lược nhỏ xinh - nơi mà cứ đến những ngày giáp Tết hàng năm trước đây, tôi lại cùng gia đình, bạn bè đi dạo, thưởng thức khí Xuân và chọn những cành đào thắm rực rỡ nhất...
| | |
| | Nhưng găm vào trí nhớ tôi nhiều nhất phải là kỷ niệm về những ngày giáp Tết xưa. Bây giờ ở trời Tây, khi lá thu trút những cánh cuối về với đất, trơ lại cành khẳng khiu, lòng người tự nhiên nôn nao, đếm ngón tay còn bao nhiêu tuần nữa là đến Noel, bao nhiêu ngày nữa là đến Tết ta? | | |
| | Đã hơn 2 năm trôi đi, tôi lại trở về Việt Nam yêu dấu, về với Hà Nội yêu thương, tìm lại những cảm xúc trào dâng khó tả, thấm đẫm mình trong hơi ấm của quê hương, ngắm lại dòng người hối hả ngược xuôi, rưng rưng trong tâm trạng bồi hồi xao xuyến!... | | |
| | Phẩm chất và bản lĩnh của người lính bộ đội Cụ Hồ trong thời chiến cũng như thời bình luôn giành được những tình cảm tốt đẹp trong lòng nhân dân. Kỷ niệm 67 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (22-12-1944 – 22-12-2011), từ Kiev- Ucraina, chị Đỗ Thị Hoa Lý chia sẻ những cảm xúc đặc biệt về một lần đến thăm và chứng kiến cuộc sống của những người chiến sĩ tại một trung đoàn ở Hoàng Liên Sơn. Tạp chí Quê Hương xin trân trọng giới thiệu... | | |
| | Miền núi trong ngôi nhà của Nghệ sĩ Đoàn Thanh Rettensteiner | | | Những bức tranh của bà Đoàn Thanh Rettensteiner kể về những nền văn hóa Việt Nam. Chúng cung cấp một sự hiểu biết sâu sắc về cuộc sống của các dân tộc thiểu số mà bà họa sĩ sinh ra tại Việt Nam đã thu thập được qua những lần về quê hương. | | |
| | Cuối tháng chín năm trước, tôi về Hà Nội, bạn bè tôi ở hai đầu nỗi nhớ đều hỏi: về dự Đại lễ nghìn năm à? Với tôi, được dự Đại lễ là niềm tự hào và vinh dự, không được dự thì Hà Nội vẫn luôn tồn tại trong tôi bởi Hà Nội đã nuôi tôi lớn, cho tôi tri thức, dạy tôi làm người.
| | |
| | Gần hai chục năm đã trôi qua, cuộc sống của những người Việt trên đất Ucraina có biết bao thăng trầm, đổi thay, nhưng những món quà ngon cuả Kharkov thì vẫn mãi đi cùng dòng chảy thời gian... | | |
| | Hà Nội và màu hoa thầm lặng | | | .... Hy vọng một ngày nào đó, niềm hạnh phúc đơn giản mà tôi đã cảm nhận được giữa đất trời Hà Nội năm nào, sẽ lại đến với tôi, trong một thành phố thân yêu nào đó ở quê hương, hay trên một vùng cao hẻo lánh, bao quanh bởi núi rừng hiểm trở. Và không chừng, trên vùng núi rừng chập trùng đó, biết đâu lại cũng có một người, dịu dàng cùng ngồi xuống bên tôi, giải thích cho nghe tên một loài hoa thầm lặng mọc bên bờ suối.
| | |
| | Nhân ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11, Tạp chí Quê Hương xin giới thiệu bài viết “Trường tôi” của tác giả Đỗ Thị Hoa Lý, hiện đang định cư tại Ucraina. Bài viết là những tình cảm chân thành, xúc động của tác giả khi nhớ về thầy cô và kỷ niệm dưới mái trường dấu yêu xưa. | | |
| | ... Bây giờ tôi ngồi đây, sau một thời gian rất dài, bao nhiêu năm đi học và đi làm chỉ sử dụng các tiếng nước ngoài, gõ lóc cóc tiếng Việt trên bàn phím, đó chính là công ơn của các thầy cô khi xưa đã có phương pháp dạy học rất căn bản, khả quan, và hơn thế nữa, đã biết song song khơi nguồn và nuôi dưỡng tình cảm của người Việt với nước Việt. | | |
| | (...) Tôi đi một vòng nhìn những cây đã ngã trong thương tiếc và cũng như thì thầm lời chia tay với chúng. Cái cây trước cửa nhà tôi, mất vài nhánh lớn, ánh nắng xuyên qua những tán lá thưa. Đứng dưới gốc cây - tôi và cây - hình như có cùng cảm nhận một niềm ấm áp, không phải từ tia nắng ban mai - mà chính là do lòng chia sẻ lẫn nhau.
| | |
| | Những Ngày văn hóa Việt Nam tại Ucraina
| | | Chúng tôi - những người con đất Việt đang làm ăn sinh sống tại đất nước Ucraina, là những người may mắn được tham dự những Ngày Văn hóa Việt Nam ở đây, được hoà mình vào không khí lễ hội, được xem những buổi biểu diễn nghệ thuật từ trong nước sang chúng tôi luôn thấy Tổ Quốc thật gần và con cháu chúng tôi thêm hiểu, thêm yêu và hướng về nguồn cội của mình... | | |
| | Đừng để phôi phai văn hóa Việt nơi xứ người | | | Việc hướng trẻ em Việt gần gũi với văn hóa Việt là điều cần thiết phải quan tâm trong giai đoạn hiện nay. Gây dựng một thế hệ trẻ yêu quê hương, biết ngôn ngữ, hiểu văn hóa dân tộc không hề dễ dàng, nhưng cũng không quá khó... | | |
|
|
|
|
|
|
|
|