|
|
|
|
Con người Việt Nam
|
|
| Thứ năm, 09/02/2012, 08:32:25 AM | | | | Xuân về, nhớ Đô đốc Đặng Tiến Đông | | | Ý kiến của bạn | Gửi tin qua E-mail | Bản để in | | | | Trong chiến thắng oanh liệt Ngọc Hồi - Đống Đa ngày ấy có công lao của rất nhiều vị tướng trong đó có tướng Đặng Tiến Đông (1738 - 1803).
Những ngày đầu năm mới gợi nhớ: Trưa mồng 5 Tết năm Kỉ Dậu (tức ngày 30/1/1789), vua Quang Trung cùng đạo quân chủ lực tiến vào Thăng Long trong niềm hân hoan của người dân kinh thành. Chiến bào của vị anh hùng áo vải hôm đó đã nhuốm đen khói súng. Lá cờ đỏ tung bay theo bước đường thắng lợi của nghĩa quân Tây Sơn, nay dẫn đầu đoàn quân chiến thắng giải phóng Thăng Long sau khi đánh tan 29 vạn quân xâm lược Mãn Thanh.
Ngô Ngọc Du, nhà thơ đương thời đã miêu tả cảnh tưng bừng ngày đầu xuân năm ấy:
Ba quân đội ngũ chỉnh tề tiến
Trăm họ chật đường vui tiếp nghênh
Mây tạnh, mù tan, trời lại sáng
Đầy thành, già trẻ mặt như hoa
Chen vai khoác cánh cùng nhau nói:
Kinh đô vẫn thuộc núi sông ta.
Trong chiến thắng oanh liệt Ngọc Hồi - Đống Đa ngày ấy có công lao của rất nhiều vị tướng trong đó có tướng Đặng Tiến Đông (1738 - 1803).
|

Bức tượng “Quan Đô” hay
“Đô đốc Đông” lưu giữ trong
chùa Trăm gian
|
Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử đã tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp của ông bằng các tư liệu tại quê hương ông, làng Lương Xá, xã Lam Điền, huyện Chương Mĩ, thành phố Hà Nội. Trước tiên là sắc phong ngày 3 tháng 7 năm Thái Đức thứ 10, tức ngày 15/8/1787. Đây là tờ sắc mà Nguyễn Huệ phong cho ông chức Đô đốc đồng tri, tước Đông Lĩnh hầu khi ông từ Bắc Hà vào Quảng Nam, tìm đến quân doanh yết kiến Bắc Bình Vương. Bản gốc sắc phong này là một bảo vật được nhiều đời con cháu họ Đặng cất giấu, giữ gìn và là cứ liệu có giá trị sử liệu học rất cao. Tư liệu thứ hai là văn bia chùa Thuỷ Lâm làng Lương Xá do Phan Huy Ích (1750 - 1822) soạn và Ngô Thì Nhậm (1746 - 1803) nhuận sắc.
Trong văn bia bằng chữ Hán này có đoạn (dịch ra quốc ngữ) như sau: “Đại tướng thống lĩnh [hiệu] Thiên hùng vệ Vũ Thắng của triều đình hiện nay là Đô đốc, Đông Lĩnh hầu Đặng Tiến Đông”. Văn bia này ghi ngày 15 tháng 6 năm Đinh Tị, niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 5, tức ngày 9/7/1797. Tư liệu thứ ba là bài minh khắc trên quả chuông chùa Thủy Lâm làng Lương Xá ngày 29 tháng 6 năm Cảnh Thịnh thứ 2, tức ngày 25/7/1794, trong đó cũng có đoạn ghi rõ họ tên, chức tước của Đặng Tiến Đông: “Đô đốc, Đông Lĩnh hầu Đặng Tiến Đông vâng mệnh vua thống lĩnh hiệu Thiên hùng vệ Vũ Thắng thuộc Trung quân…”. Hiện giờ thư viện của Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn giữ ba cuốn gia phả họ Đặng.
Theo các gia phả, gia đình Đặng Tiến Đông đã mấy đời ăn lộc vua, bổng chúa, làm quan trong triều đình và các trấn. Năm 1747, Đặng Tiến Đông lên 9 tuổi bắt đầu theo học thầy giáo Doãn Xá tại chùa Thuỷ Lâm (còn gọi là chùa Lương Xá ở xã Lam Điền, huyện Chương Mĩ). Cậu bé Đông cắp sách đến trường đúng vào lúc phong trào nông dân khởi nghĩa ở Đàng Ngoài đang phát triển rầm rộ. Đặng Tiến Miên là cha và Đặng Đình Trí là anh của Đặng Tiến Đông đã từng cầm quân đàn áp các cuộc khởi nghĩa đó và nhiều phen bị thất bại thảm hại. Đến năm 1749, Đặng Tiến Đông 11 tuổi thì mồ côi cha. Mười năm sau, mẹ Đông cũng qua đời. Năm 1786, quân Tây Sơn dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Huệ sau khi chiếm lại Thuận Hoá đã vượt sông Gianh ra Bắc Hà. Chưa đầy một tháng, nghĩa quân đã đánh tan lực lượng của chúa Trịnh, lật đổ nền thống trị của tập đoàn phong kiến suy thoái này. Sau đó, quân Tây Sơn lại rút về Nam, trao lại quyền hành ở Bắc Hà cho vua Lê.
Nhưng sau khi Lê Hiển Tông băng hà, vua Lê Chiêu Thống tỏ ra nhu nhược, bất lực! Bắc Hà lâm vào cảnh cực kì hỗn loạn. Những biến động chính trị trong năm 1786 đã có ảnh hưởng quyết định đến chí hướng và hành động của Đặng Tiến Đông, lúc này ở tuổi 48. Ông sớm tìm thấy ở Nguyễn Huệ và sự nghiệp của người anh hùng “áo vải cờ đào” này một hướng đi mới. Năm 1787 ông tìm vào Quảng Nam, đến yết kiến Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ. Cuộc tri ngộ này mở ra bước ngoặt trong cuộc đời và sự nghiệp của ông. Đặng Tiến Đông được Nguyễn Huệ đón tiếp niềm nở, đánh giá “là người có khí khái của đấng trượng phu, có hoài bão của kẻ làm trai” và khuyên ông “hãy đem hết tâm lực làm tròn công nghiệp của ta”. Ông còn được Nguyễn Huệ ban ấn kiếm, phong chức tước như nêu ở phần trên. Có thời gian Đặng Tiến Đông đã làm Trấn thủ xứ Thanh Hoa (sau này gọi là Thanh Hoá) và Nghệ An.
|

Gác chuông chùa Trăm Gian treo quả chuông đồng do Đặng Tiến Đông cho đúc
|
Trong lễ phong thưởng các tướng sĩ tổ chức tại Thăng Long sau chiến thắng xuân Kỉ Dậu (1789), vua Quang Trung đã khen thưởng Đô đốc Đặng Tiến Đông và ban cho ông làng quê Lương Xá làm thực ấp vĩnh viễn. Từ đầu năm 1790, tướng Đặng Tiến Đông vào Phú Xuân (thành phố Huế ngày nay) được phong Đại đô đốc, cai quản Đại thiên hùng binh và trông nom việc chế thuốc súng. Sau khi vua Quang Trung từ trần một thời gian, ông xin nghỉ, về quê nhà rồi tu ở chùa Trăm Gian tức chùa Quảng Nghiêm tại thôn Tiên Lữ, xã Tiên Phương, huyện Chương Mĩ. Ông đã bỏ tiền đúc chuông (1794), tu sửa chùa (1797), cúng 400 quan tiền và 8 mẫu ruộng vào chùa. Đặng Tiến Đông qua đời năm 1803, thọ 65 tuổi.
Hiện trong chùa Trăm Gian còn lưu giữ 1 bức tượng chân dung “Quan Đô” hay “Đô đốc Đông” như nhân dân địa phương thường gọi. Tượng cao 1,3 mét tả một vị tướng mặc triều phục, trong tư thế ngồi, hai tay vòng về phía trước, khuôn mặt rộng, gò má hơi cao, miệng hơi dô, môi dày, râu quai nón, nét mặt hiền từ, nghiêm nghị. Theo gia phả họ Đặng ở Lương Xá, pho tượng truyền thần này được tạc vào năm 1794, lúc Đặng Tiến Đông 56 tuổi và trùng tu vào năm Thành Thái thứ 15 (1903). Đây là một di vật quý hiếm về nghệ thuật tạo hình thời Tây Sơn và là hình ảnh cụ thể về một tướng soái Tây Sơn trong trang phục đương thời.
Trong sách “Chương Mĩ xưa và nay” (do Sở văn hoá - Thông tin Hà Tây (cu) xuất bản năm 2003), giáo sư sử học Phan Huy Lê đã viết: “Chính sử không ghi chép một câu nào về nhân vật Đặng Tiến Đông. Nhưng nhờ văn bia của các đền, chùa, gia phả của dòng họ cùng một số tư liệu chữ viết, di tích, hiện vật mà con cháu và nhân dân còn giữ được, trải qua bao nhiêu biến thiên của lịch sử, ngày nay chúng ta phát hiện ra và trả lại vị trí xứng đáng cho một vị tướng tiên phong của quân đội Tây Sơn có công lao to lớn trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm cuối thế kỉ XVIII”.
Ngày nay ở làng Lương Xá, quê hương tướng quân có nhà thờ Đặng Tiến Đông đã được Bộ Văn hoá - Thông tin công nhận là di tích lịch sử - văn hoá quốc gia ngày 12/2/1999. Còn ở cạnh gò Đống Đa từ năm 1986 có một con phố mang tên Đặng Tiến Đông.
(Theo Hanoitv)
| | | |
|
|
|
|
|
| | Người Nam làm quan đất Bắc | | | Trong lịch sử nước ta, từ xưa đến giờ người mình trèo non vượt bể sang Tàu cũng nhiều và nhiều người lại được tiến cử làm quan to trong triều. Lý Ông Trọng là một trong số những người như vậy.
| | |
| | Những danh nhân tuổi Rồng trong lịch sử Việt Nam | | | Danh sỹ Mạc Đĩnh Chi, anh hùng Trương Định, chí sỹ Phan Đình Phùng, Tổng Bí thư đầu tiên Trần Phú... là những danh nhân tuổi Thìn trong lịch sử dân tộc Việt Nam.
| | |
| | Những vị vua gắn liền với Văn Miếu – Quốc Tử Giám | | | Tại nhà Thái học nằm trong Văn Miếu – Quốc Tử Giám hiện thờ ba vị vua anh minh là Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông và Lê Thánh Tông - những vị minh quân đã có công sáng lập, hoàn thiện và phát triển nơi này thành một trung tâm văn hóa hàng đầu của nước ta.
| | |
| | Nữ sĩ họ Đoàn và những giai thoại để đời | | | Trong các nhà thơ nữ của mọi thời đại, nữ sĩ Đoàn Thị Điểm được xem là người tài sắc vẹn toàn. Những tác phẩm như Chinh phụ ngâm, Truyền kỳ tân phả… trải qua hơn hai thế kỷ vẫn sáng ngời giá trị, trở thành niềm tự hào của nền văn chương Việt Nam. Bà còn là hình tượng kinh điển cao quý, tiêu biểu cho phẩm chất người phụ nữ Việt Nam.
| | |
| | Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi | | | Mạc Đinh Chi (1280-1346) tự là Tiết Phu, vốn người Lao Khê, huyện Bình Hà, châu Nam Sách, lộ Lạng Giang, sau đó dời đến làng Lũng Động, xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
| | |
|
|
|
| | Mẹ tôi bảo, nếu ông ấy không đi kháng chiến thì chắc ông ấy đã đỡ con chào đời như hai anh của con. Một bạn nhà báo trẻ hỏi, tại sao ông ấy trông vừa sang trọng, vừa lịch lãm lại bình dân đến thế.
| | |
| | Nguyễn Bính - Người đồng hành cô độc | | | Đúng là ông luôn hiện lên trong chúng ta, bên chúng ta, cùng tỉ tê chia sẻ nỗi niềm trong một đêm mưa, một ánh lửa chài, trong dáng sông bóng núi. Có ông bên những người tha phương. Có ông bên những người Việt đang yêu từ những năm 1939 cho đến tận hôm nay.
| | |
| | Thiền sư Vạn Hạnh: Như sương trên cỏ, thịnh suy tĩnh lòng
| | | Vạn Hạnh là người rất chăm chỉ đèn sách, “học hỏi không biết mệt” (Thiền uyển tập anh). Sau khi Thiền Ông tịch diệt, ông đã chuyên tâm tu về các loại thiền, đặc biệt là tập kinh Tổng trì tam ma địa, lấy đó làm sự nghiệp. Và ông đã sớm đạt được độ thượng thừa trong dòng Thiền của mình. Chính vì thế nên sau này hễ ông nói lời gì đều được thiên hạ cho là phù sấm…
| | |
| | Ngồi trước mặt tôi là một cụ bà tuổi đã ngoại 80, vóc dáng nhỏ nhắn, khuôn mặt phúc hậu và mái tóc trắng như sương. Đó chính là nghệ nhân ca trù Phó Thị Kim Đức, người đào nương cuối cùng còn lại của giáo phường ca trù Khâm Thiên nổi tiếng đất kinh kì Thăng Long xưa.
| | |
| | Vua Lý Thái Tông: Tiếng dân chuông vọng | | | Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, cách đây 960 năm, cũng vào năm Nhâm Thìn (1052), vua Lý Thái Tông đã xuống chiếu đúc chuông lớn để trước thềm rồng Long Trì ở điện Thiên An thuộc hoàng thành Thăng Long, cho dân ai có oan ức gì không bày tỏ được thì đánh chuông ấy để tâu lên. Trong một chính thể phong kiến thực tình còn chưa thoát khỏi giai đoạn sơ khai, đây là một hành động thân dân, thương dân cực kỳ tiến bộ xứng đáng được đánh giá cao.
| | |
| | Ngô Sĩ Liên - Sử gia danh tiếng của nước Đại Việt | | | Ngô Sĩ Liên, người làng Ngọc Giả xã Ngọc Hòa, huyện Chương Mĩ, Hà Tây (nay thuộc Hà Nội). Là một sử gia nổi tiếng đương thời nhưng cho tới nay, cuộc đời của ông cũng chỉ được biết đến với vài điều sơ lược. | | |
| | Nguyễn Qúy Đức - người khởi xướng dựng bia tiến sĩ
| | | Nguyễn Qúy Đức là người có công lớn trong việc trùng tu, xây dựng thêm các công trình ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám như: dựng điện Đại Thành và hai bên tả hữu vu, trang trí nhà Thái học, dựng 21 bia Tiến sĩ.
| | |
| | Người “Quyết tử quân số 1” của Hà Nội | | | Vào thời điểm 19/12/1946, đơn vị anh đang được phiên chế trấn giữ Bắc Bộ Phủ, anh cùng đơn vị đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để bảo vệ Bắc Bộ Phủ, năm ấy anh 26 tuổi.
| | |
| | Nguyễn Như Đổ, nhà chính trị, ngoại giao kiệt xuất | | | Trong 38 năm Đại Việt được sống trong hòa bình, kinh tế, văn hóa, giáo dục, đều phát triển ở mức cao. Các đời vua sau đều lấy đó làm mẫu mực noi theo. Trong thành tựu chung này, Nguyễn Như Đổ đã có đóng góp đáng kể. Muốn đất nước hưng thịnh, không phải chỉ có vua hiền mà còn cần phải có tôi giỏi...
| | |
| | Dạ Trạch Vương Triệu Quang Phục
| | | Nối nghiệp Lý Nam Đế, Triệu Quang Phục đã lãnh đạo nhân dân ta đánh đuổi giặc Lương, kiến thiết đất nước...
| | |
| | Xét lại án oan mang tên "Thoại Ngọc Hầu"
| | | Thoại Ngọc Hầu là một trong những vị khai quốc công thần hàng đầu của vua Gia Long. Tuy nhiên, cùng với những vinh hiển nhận được từ các vị vua triều Nguyễn, ông còn "nhận" được một án oan kéo dài suốt 90 năm mới được gột rửa.
| | |
| | Nguyễn Văn Huyên – Nhà Việt Nam học uyên thâm
| | | ...ông Nguyễn Văn Huyên còn có ưu thế vô song là nắm được các sự kiện xã hội Việt Nam bằng kinh nghiệm bản thân và bẩm sinh, có khả năng tiếp cận trực tiếp và tức thì với chất liệu xã hội học và có thể đi sâu tiến hành những khảo sát mà những nhà nghiên cứu châu Âu không thể nào thực hiện nổi. Những con chủ bài đó đã cho phép ông tiến hành và hoàn thành tốt đẹp nhiều nghiên cứu về đời sống tôn giáo, tinh thần, xã hội của dân quê Việt Nam...
| | |
| | Lê Văn Hưu - Nhà sử học lỗi lạc | | | Trong thời gian làm việc ở Quốc sử Viện, vào năm 1272, Lê Văn Hưu đã hoàn thành việc biên soạn Đại Việt sử ký - bộ quốc sử đầu tiên của Việt Nam, ghi lại những sự việc quan trọng chủ yếu trong một thời gian lịch sử dài gần 15 thế kỷ, từ Triệu Vũ đế (tức Triệu Đà 207 - 136 trước Công nguyên) cho tới Lý Chiêu Hoàng (1224 - 1225), tất cả gồm 30 quyển, được Trần Thánh Tông xuống chiếu ban khen.
| | |
| | Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật | | | Trần Nhật Duật là hoàng tử thứ 6, con của vua Trần Thái Tông, sinh năm Ất Mão 1255, quê gốc Nam Định, Ông là người kiêm toàn văn, võ.
| | |
| | Quốc sư Khuông Việt (933 - 1011) không chỉ là một nhà tu hành mà còn là một nhà chính trị, một nhà ngoại giao tài ba của nước Việt. Danh tiếng cũng như huyền thoại về ông - tấm gương sáng về tinh thần đạo pháp dấn thân cùng dân tộc vẫn được lưu truyền từ ngàn đời nay trong lịch sử Phật giáo Việt Nam.
| | |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| Tiêu điểm |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
 |
|
Nguyễn Trãi và Âm Nhạc |
| Nguyễn Trãi - một người tài ba lỗi lạc, hiếu với cha, trung với nước. Khi nhà Vua không được coi là ... |
|
 |
|
Người Tây Bắc hiếu khách |
| Nếu lấy Hà Nội làm trung tâm thì cứ ngược quốc lộ 6 lên phía Tây Bắc là chúng ta sẽ đến được vùng ... |
|
|
|
 |
|
Già làng Tây Nguyên |
| Thời trẻ, họ từng là những tay rựa sắc bén, tay ná cự phách. Về già, họ trở thành những già làng ... |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|