|
|
|
|
1000 năm Thăng Long - Hà Nội
|
|
| Thứ tư, 08/02/2012, 15:52:32 PM | | | | Ðàn Nam Giao của kinh thành Thăng Long | | | Ý kiến của bạn | Gửi tin qua E-mail | Bản để in | | | | Trong kiến trúc kinh thành xưa, Đàn Nam Giao là một đơn vị quan trọng không thể thiếu. Đó là nơi hàng năm nhà vua đích thân ngự làm lễ tế Trời Đất, cầu cho quốc phú dân an. Trước khi nhà Nguyễn lên ngôi, dời đô vào Phú Xuân (Huế) thì Thăng Long ở vị thế kinh thành cũng đã có một Đàn Nam Giao khang trang rộng rãi.
Theo Ðại Việt sử ký toàn thư, năm 1154 đắp Đàn Viên Khâu ở phía nam thành Ðại La, trước đó năm 1137 và năm 1138 đã chép về Vu Đàn. Ðại Nam nhất thống chí chép rõ hơn: "Ðàn Nam Giao nhà Lý ở địa phận huyện Thọ Xương, phía nam tỉnh thành, do nhà Lý xây đắp để làm chỗ tế trời. Nhà Lê đời Quang Thuận sửa lại, chính điện ba gian, hai bên đông tây vu mỗi bên đều bảy gian, có các tòa điện Canh Y (nơi thay áo). Trai cung, nhà bếp, nhà kho, bên trong, bên ngoài xây tường quanh cùng ba gian nghi môn. Ðời Quang Hưng dựng thêm điện Chiêu Sự. Ðời Cảnh Trị sửa lại, qui chế thì bốn góc có cột đá, cột rường xà bẩy, đều chạm rồng phượng, sơn son thếp vàng. Hồ Sĩ Dương soạn bài ký. Bản triều đầu đời Gia Long, dỡ lấy gạch đá để xây thành, chỉ còn đền chính ở phường Thịnh Yên. Năm Tự Ðức 11 (1858), đền bị cháy" . Tấm bia do Hồ Sĩ Dương soạn mang tên "Nam Giao điện bi ký" dựng năm Vĩnh Trị 4 (1679) tại điện Nam Giao.
|

Tấm bia "Nam Giao điện bi ký"
tại Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam
|
Năm 1892 khi “Công ty Ðông Dương về rừng và diêm” xây dựng nhà máy diêm, tấm bia đã được di chuyển sang đầu ngõ phố Lê Ðại Hạnh giáp phố Thái Phiên và sau được đưa về bảo quản và trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử. Ðây là một trong những tấm bia lớn, trang trí vào loại đẹp nhất của thời Lê Trung hưng. Văn bia cho biết Tây Vương Trịnh Tạc (1657-1682) xây dựng lại điện Nam Giao khá qui mô, khởi công năm 1663 và hoàn thành năm 1664. Văn bia ghi "cột xà đều dùng nguyên liệu tốt, mực thước theo kiểu điện Trường Sinh, dỡ bỏ những cái cũ kỹ, xây dựng công trình mới mẻ... Ðiện này xây gạch làm nền, đá dựng làm cột, đao cong rực rỡ, đầu rồng dưới mái lượn song song".
Sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú cũng có đoạn miêu tả quy mô bề thế: “giữa là chính điện Chiêu Sự, cột bốn góc làm bằng đá, nền và sân cùng với lan can vây quanh Đàn đều cùng làm bằng đá cả. Rường, xà, rui, hoành đều sơn son thếp vàng, có hai dãy hành lang tả hữu. Bên ngoài là chỗ vua đến thay áo lễ. Đằng trước có ba tầng cửa. Quy mô chế thức rực rỡ”.
Ðiện Nam Giao còn được ghi chép và miêu tả trong Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Ðôn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn, Vũ trung tùy bút của Phạm Ðình Hổ và nhiều tư liệu khác. Nghi thức tế Giao thời Lê còn được Phan Huy Chú miêu tả cụ thể trong Lễ nghi chí của Lịch triều hiến chương loại chí.
Trên các bản đồ thành Ðông Kinh của tập Hồng Ðức bản đồ đều ghi nhận điện Nam Giao ở phía nam gần thành Ðại La. Trên bản đồ Hà Nội năm 1873, điện Nam Giao còn được thể hiện khá rõ gồm hai kiến trúc và về phía nam là một khu hồ khá rộng, ở vào vị trí gần cửa ô phía nam thành Ðại La tức ô Cầu Dền (phố Bạch Mai nối phố Huế hiện nay). Ðịa bạ năm Minh Mệnh 18 (1837) của thôn Thịnh Yên, tổng Kim Hoa, huyện Thọ Xương chép một khu đất ghi rõ "nguyên là nền đất điện Nam Giao, rộng 0.0.12.8.0.", tính ra là 308 m2. Trong địa bạ còn ghi "hai hồ liền nhau (xưa là hồ điện Nam Giao): 4.0.00.0.0., đông giáp y xứ thổ (xưa giáp phường Yên Thọ và chùa Ðế Thích), tây giáp y xứ hồ và địa phận thôn Văn Hồ (xưa giáp Trung Tiệp và điện Nam Giao, nam giáp địa phận thôn Vân Hồ (xưa giáp thành Ðại La), bắc giáp y xứ thổ và quan hồ thôn Yên Nhất (xưa giáp đường lớn)". Hai hồ liền nhau gọi là hồ điện Nam Giao đó rộng 4 mẫu tức 14.400 m2.
Các nhà nghiên cứu đều thống nhất chỉ định di tích của điện Nam Giao ở vào khoảng nhà máy cơ khí Trần Hưng Ðạo trước đây, gần cửa ô Cầu Dền thuộc quận Hai Bà Trưng, khoảng giữa các phố Mai Hắc Ðế, Thái Phiên, Ðoàn Trần Nghiệp, Bà Triệu.
Năm 2007 do yêu cầu xây dựng một số công trình ở đây, Viện Khảo cổ học được phép tiến hành khai quật ba đợt trên diện tích 1.100 m2. Kết quả khai quật khảo cổ học đã phát hiện được các di tích kiến trúc và di vật thời Lý, Trần và Lê. Di tích kiến trúc thời Lê đã bị phá hủy nặng nề qua hai lần xây dựng Nhà máy diêm và Nhà máy cơ khí, chỉ còn lại dấu tích sân nền lát gạch vồ đặc trưng thời Lê lẫn các loại gạch thời trước cùng nhiều di vật như ngói, gạch, tượng đầu nghê, sấu..., trong đó có ngói tráng men màu vàng in hình rồng 5 móng thời Lê sơ như đã tìm thấy ở Hoàng thành Thăng Long và Lam Kinh. Về thời Lý, Trần, đã tìm thấy di tích móng trụ sỏi và nhiều di vật như các loại gạch, ngói trang trí lá đề hình rồng, ngói ống với đầu ngói in hình hoa sen, đầu chim phượng, đồ gốm sứ. Ðặc biệt đã phát lộ di tích kiến trúc hình chữ công thời Lý với đường móng sành dài 22m, chỗ rộng nhất: 22,65m, hẹp nhất: 8,90m. Ðây là bình đồ kiến trúc hình chữ công sớm nhất được phát hiện trong lịch sử kiến trúc Việt Nam. Kiến trúc đã bị thời sau phá hủy nên di tích còn lại chỉ còn lớp móng mỏng chừng dưới 10cm.
(Tổng hợp) | | | |
|
|
|
|
|
| | Ở Hà Nội, đã mấy người biết được trong vùng phố cổ “36 phố phường” xưa có ba ngôi đình mà lại là đình chợ, nghĩa là ở đó không chỉ thờ tổ nghề, thờ thành hoàng làng, mà còn là chợ bán sản phẩm của phường nghề làm ra. Đó là Tú thị đình (đình chợ thêu), Quyến yếm thị đình (đình chợ bán yếm lụa) và Xuân phiến thị đình (đình chợ quạt mùa xuân).
| | |
| | Con đường di sản ven Hồ Tây | | | Hồ Tây nằm ở phía Tây Bắc Hà Nội, diện tích hơn 500ha, là hồ rộng nhất Thủ đô và là hồ tự nhiên có hình móng ngựa, các nhà khảo cổ học đã chứng minh hồ là đoạn sông Hồng cũ còn sót lại sau khi thay đổi dòng chảy. | | |
| | Hà Nội xanh từ phố Tràng Tiền phượng đỏ | | | Năm 1883, thực dân Pháp chiếm hoàn toàn Hà Nội và Công sứ Hà Nội là Bonnal lên kế hoạch kiến thiết khu vực xung quanh Hồ Gươm, đặc biệt là phía đông để xây công sở phục vụ cho việc thống trị lâu dài của thực dân Pháp.
| | |
| | Từ nhà trọ lá đến khách sạn vàng | | | Từ thời Lý, Thăng Long đã có các quán ăn đồng thời cũng là quán trọ dành cho những người buôn bán ở các nơi về kinh đô. Mô hình này tồn tại đến triều Nguyễn và nó cũng là nơi ở của các nhà buôn nước ngoài. Đến cuối thế kỷ XIX, Hà Nội xuất hiện khách sạn đầu tiên nhưng làm bằng tre và lợp lá.
| | |
| | Học viện quân sự đầu tiên của Việt Nam
| | | Giảng Võ đường giờ chỉ còn lại trong ký ức và sử sách. Người đời sau chỉ biết có một Giảng Võ đường ở phía Tây kinh thành, nơi súng nổ, ngựa hý, quân reo mang âm hưởng hào hùng của một thời. | | |
|
|
|
| | Nước Văn Hồ tha hồ tắm mát | | | Thời Hậu Lê, Văn Miếu chiếm một khu vực rất rộng giữa địa phận hai làng Cổ Giám và Văn Chương. Bên tả là khu học xá ở thôn Minh Giám, là nơi trú ngụ của các cống sĩ về học tại Quốc Tử Giám. Phía trước có một cái hồ nhỏ gọi là Hồ Văn được tu sửa thành khung cảnh khá đẹp.
| | |
| | Những ai có dịp đi qua cầu Chương Dương đều có thể trông thấy một chiếc đồng hồ vuông 4 mặt trên cây cột gang. Đây chính là vị trí của cột Đồng Hồ ngày xưa, một địa danh đã đi vào hoài niệm của biết bao người Hà Nội.
| | |
| | Không biết vì hoàn cảnh hay vì quan niệm mà cứ nói đến Tết là phổ biến nhất vẫn là “ăn Tết”, rồi sau đó mới đến “chơi Tết”. | | |
| | Ngôi đình thờ Tản Viên, một trong bốn vị thánh bất tử của Đạo giáo Việt Nam, một trong những nhân vật hàng đầu của thần thoại Việt – Mường cổ.
| | |
| | Những làng hoa của Thập Tam Trại | | | Cả vùng “Thập Tam Trại” lúc đầu làm nông nghiệp nhưng rồi sau Ngọc Hà, Hữu Tiệp đã chuyển sang trồng hoa từ hàng ngàn năm nay và trở thành nổi tiếng. Nổi tiếng đến nỗi người Kinh Kỳ đã gọi nó bằng cái tên mới: Trại Hàng Hoa... | | |
| | Trong dòng chảy văn hóa của Thăng Long- Hà Nội nghìn năm văn hiến, bên cạnh những công trình văn hóa, lịch sử mang đậm phong cách phương Đông, còn có một Hà Nội mang dấu ấn và giao thoa với văn hóa phương Tây. Đó là những công trình kiến trúc công sở, trường học, nhà hát, những tòa biệt thự và đặc biệt là những Nhà thờ, xuất hiện ở Hà Nội từ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 đã tạo cho Hà Nội một dáng vẻ, một hình ảnh duyên dáng và mới lạ.
| | |
| | Đình Ngũ Xã và thợ đúc đồng tài hoa | | | Ngũ Xã là năm xã Đông Mai, Châu Mỹ, Long Thượng, Đào Viên và Điện Tiền ở vùng Thuận Thành (Bắc Ninh) và Văn Lâm (Hưng Yên). Vào khoảng thế kỷ 17 – 18, một số thợ đúc đồng quê ở năm xã đã cùng nhau về bán đảo Trúc Bạch (nay thuộc quận Ba Đình) mở lò đúc đồng, làm ra những chiếc nồi, sanh, đỉnh, chuông, tượng, đồ thờ và còn đúc cả tiền đồng cho triều đình.
| | |
| | Quán Giá và tướng Lý Phục Man | | | Quán Giá thờ Lý Phục Man, một danh tướng của Lý Bí, sống ở thế kỷ thứ VI, quê ông ở làng Cổ Sở (huyện Hoài Đức), không rõ họ tên thật. Tương truyền ông giỏi võ nghệ, theo Lý Bí khởi nghĩa chống quân Lương (Trung Hoa) xâm chiếm nước ta, lập nhiều chiến công. | | |
| | Thành Cổ Loa - Kinh đô của nhà nước Âu Lạc
| | | Thành Cổ Loa thuộc xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội, là kinh đô của nhà nước Âu Lạc (tên nước Việt Nam thời đó), dưới thời An Dương Vương vào khoảng thế kỷ thứ III trước Công nguyên và của nhà nước Vạn Xuân dưới thời Ngô Quyền thế kỷ X sau Công nguyên.
| | |
| | 100 năm Nhà hát lớn Hà Nội | | | Năm 2011, Nhà hát lớn Hà Nội tròn 100 năm tuổi. Trải qua một thế kỉ với biết bao thăng trầm của thời cuộc nhưng công trình này vẫn tồn tại vững bền, trở thành một địa chỉ văn hóa lớn và một công trình kiến trúc đẹp của Hà Nội nghìn năm tuổi.
| | |
| | Suốt đoạn sông Hồng chảy qua Hà Nội ngày nay, dài trên 40km, từng duy nhất có một làng mà địa phận nằm ở cả hai bên sông. Làng là nơi sinh thành của Thái úy Lý Thường Kiệt - một vị anh hùng dân tộc lớn của Việt Nam. Đặc biệt hơn, đó là làng duy nhất có chứng tích cụ thể là làng được thành lập cùng thời gian Lý Thái Tổ mới dời đô ra Thăng Long. Đó là làng Cơ Xá.
| | |
| | Chùa Thánh Chúa - Chứng tích văn hóa Thăng Long
| | | Chùa Thánh Chúa (Thánh Chúa tự) được dựng trên một gò đất cao vào giữa thế kỷ XI thuộc địa phận thôn Hậu, xã Dịch Vọng, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
| | |
| | Phố Hàng Nón dài 216m, đi từ phố Hàng Quạt đến phố Đường Thành, cắt ngang phố Hàng Điếu, thuộc phường Hàng Gai, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
| | |
| | Phố Ngõ Gạch và đình Thanh Hà | | | Từ Hàng Ngang - Hàng Đường rẽ vào là Ngõ Gạch thuộc phường Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm (Hà Nội). Đây nguyên là đất thôn Hương Bài, Cổ Lương, tổng Hậu, huyện Thọ Xương, Hà Nội xưa.
| | |
| | Phố Hàng Rươi thuộc phường Hàng Mã (quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) có chiều dài khoảng gần 110m. Đây nguyên là đất thôn Vĩnh Trù và Yên Phú, tổng Hậu Túc, huyện Thọ Xương (Hà Nội xưa).
| | |
|
|
|
|
|
|
|
|