NVNONN có thể lấy lại đất tại VN đã nhờ người thân đứng tên?

Trả lời: 

Trước tiên, phải thấy rằng việc ông (bà) mua bán đất đai theo hình thức nhờ người em trai đứng tên là trái với các quy định của pháp luật Việt Nam về giao dịch và sở hữu bất động sản.

Xét về nguyên tắc pháp lý thì giao dịch này bị coi là vô hiệu bởi vì ông (bà) phải là đối tượng được quyền sử dụng đất đầy đủ tại Việt Nam như công dân Việt Nam. Tuy nhiên, phụ thuộc vào nội dung của thoả thuận giữa ông (bà) và em trai mà chúng tôi hiện chưa có thông tin cụ thể về thoả thuận này, cơ quan thực thi pháp luật sẽ áp dụng các quy định pháp luật phù hợp để giải quyết tranh chấp nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của các bên. 

Trước hết, nếu ông (bà) muốn đòi lại quyền lợi đối với số đất đó thì phải làm Đơn yêu cầu Toà án Nhân dân tỉnh nơi có bất động sản giải quyết (điểm c, khoản 1, Điều 34; điểm c, khoản 1, Điều 35 Bộ Luật Tố tụng Dân sự). Trong trường hợp này, ông (bà) sẽ xuất trình Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất (Sổ đỏ) hiện đang nắm giữ và Giấy Cam kết giữa ông (bà) với người em trai liên quan đến vụ việc để làm bằng chứng chứng minh trước Toà án. 

Toà án sẽ giải quyết vụ việc theo hai hướng sau: 

- Trường hợp, ông (bà) là Người Việt Nam định cư ở nước ngoài chưa đủ điều kiện nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Việt Nam, Toà án có thể tuyên bố giao dịch dân sự giữa ông (bà) và em trai nêu trên là vô hiệu toàn bộ, và các bên buộc phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Người em trai ông (bà) phải bán số đất đã đứng tên đi để hoàn trả lại tiền cho ông (bà) (Điều 137 Bộ Luật Dân sự).  

- Trường hợp, ông (bà) có đủ điều kiện để nhận chuyển nhượng số đất đó tại Việt Nam, Toà án có thể tuyên giao dịch nêu trên vô hiệu một phần, và có khả năng ông (bà) sẽ được chấp nhận là chủ sử dụng đất hợp pháp và phải thực hiện thủ tục chuyển tên trên tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Sổ đỏ) từ người em trai sang tên của ông (bà). 

Điều kiện để ông (bà) được Nhà nước Việt Nam cấp Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất được quy định cụ thể tại Luật Đất đai năm 2003. 

Văn phòng Luật sư NHQuang và cộng sự
Số 8, ngõ 7, phố Thái Hà, Đống Đa, Hà Nội