Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đầu thế kỷ XXI: Số liệu và Bình luận

LTS: Từ đầu thế kỷ XX đã có những nhóm người VN đi ra nước ngoài sinh sống, làm ăn nhưng so với các cộng đồng ngoại kiều khác, cộng đồng NVNONN vẫn thuộc loại “trẻ”. Chúng ta chưa có con số thống kê chính thức về cộng đồng khoảng 3,5 triệu NVN ở khoảng 100 nước và vùng lãnh thổ ngoài biên giới nước ta và cũng chưa có nhiều công trình nghiên cứu về đời sống mọi mặt của “bộ phận không tách rời” này của dân tộc VN. Sự khác biệt trong cách đặt vấn đề, trong cách tiếp cận và cung cấp thông tin về đối tượng nghiên cứu là dễ hiểu và đôi khi còn rất lớn. Với tinh thần cung cấp thông tin nhiều chiều, tạo không gian quan sát và diễn đàn trao đổi về vấn đề kiều dân - một vấn đề ngày càng được coi trọng trong quan hệ giữa các quốc gia với nhau - Tạp chí Quê Hương xin đăng bài của Tiến sỹ Trần Trọng Đăng Đàn, một nhà nghiên cứu khoa học xã hội rất tâm huyết với đề tài “Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài”.

Các ý kiến trao đổi của Bạn đọc liên quan đến vấn đề này xin gửi về Ban Biên tập Tạp chí Quê Hương, địa chỉ bưu điện: 7B ngõ Phan Chu Trinh, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, Việt Nam; địa chỉ thư điện tử: info@quehuongonline.vnquehuong@hn.vnn.vn. Tạp chí Quê Hương sẽ đăng các bài và ý kiến trao đổi của Bạn đọc trên cả hai phiên bản inđiện tử ( http://quehuongonline.vn ) để mọi người cùng tham khảo.

*
*     *

Cho đến đầu thế kỷ XXI, VN là nước có kiều dân thuộc loại nhiều và có thể nói là thuộc loại rất nhiều nếu tính tỷ lệ kiều dân VN so với tổng số dân trong nước.

Vào cuối thế kỷ trước, khi dân nước Trung Quốc có khoảng 1,3 tỷ thì Hoa kiều có khoảng 55 triệu, chiếm tỷ lệ 4,23%; Anh có khoảng 60 triệu dân thì kiều dân Anh có khoảng 2 triệu, chiếm 3,33%; Ấn Độ có khoảng 900 triệu dân thì kiều dân Ấn Độ có khoảng 20 triệu, chiếm tỷ lệ 2,22%; Nhật Bản có khoảng 120 triệu dân thì kiều dân Nhật có khoảng 2 triệu, chiếm 1,66%... Cùng thời gian đó VN có khoảng 68 triệu dân thì NVNONN có khoảng 2,6 triệu, chiếm 3,82%. Như vậy là, về mặt tỷ lệ, so sánh với 4 nước thuộc loại có kiều dân nhiều vào hạng nhất thế giới đó, VN chỉ sau Trung Quốc.


 Cộng đồng người Việt tại Mỹ hiện đã lên tới trên 1,5 triệu người.
Ảnh: Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết gặp gỡ Việt kiều Mỹ
trong chuyến thăm Mỹ tháng 6/2007

Bước qua đầu thế kỷ XXI, số kiều dân VN vẫn có chiều hướng tăng, tuy không có sự gia tăng đột biến như thời kỳ những năm sau của thập niên 70 thuộc thế kỷ XX. Do vậy, nghiên cứu về NVNONN hiện nay cần đặc biệt lưu ý tới sự diễn biến của sự gia tăng đó.

Vì nhiều lý do chủ quan và khách quan mà việc thu thập tài liệu, số liệu về kiều dân VN suốt nhiều năm qua vẫn chưa có được một con số thật sự chính xác. Nhiều lúc các nguồn thông tin về số lượng kiều dân VN khác nhau rất xa. Khoảng cách các con số có lúc xa nhau tới cỡ xê dịch từ 2 triệu đến 4 triệu; đặc biệt, có lúc, có tài liệu thông báo rằng NVNONN đã lên tới 6 triệu (!).

Kiều dân của bất cứ nước nào cũng có sự biến đổi số lượng theo thời gian. Nhưng với VN thì sự biến đổi số lượng kiều dân trong ba mươi năm qua mang nhiều yếu tố đặc biệt; gắn kết với nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của đất nước và của thế giới. Sự kiện miền Nam VN được hoàn toàn giải phóng vào tháng 4/1975 và những vụ việc phát sinh tiếp theo do sự kiện đó như sự xuất ngoại theo diện Con lai Mỹ (Asian-American Children - AC); theo Chương trình ra đi có trật tự (Orderly Departure Programme -  ODP) của Cao Ủy Liên hợp quốc về người tị nạn (United Nations High Commissoner for Refugees - UNHCR) hoặc theo Chương trình dành cho sĩ quan chính quyền Sài Gòn cũ đi cải tạo về (Humanitarian Organization - HO)... cùng với việc xuất ngoại do sự kiện chiến tranh biên giới và vấn đề “nạn kiều”; xuất ngoại và xáo trộn di dân do sự kiện Liên Xô và Đông Âu sụp đổ... Mặt khác, hiện tượng gia tăng số lượng kiều dân VN còn chịu ảnh hưởng không nhỏ từ những biến chuyển xã hội như vấn đề gia tăng xuất khẩu lao động, vấn đề kết hôn với người nước ngoài... Sự thay đổi tổng số lượng kiều dân VN đã phức tạp, nhưng sự thay đổi số lượng kiều dân VN trên từng nước sở tại còn phức tạp hơn nhiều. Tổng hợp nhiều nguồn số liệu thu thập được trong những năm 1994-1995 về kiều dân VN trên 79 nước và vùng lãnh thổ, chúng tôi đã có một con số là 2.643.200 người. Những số liệu này đã được công bố trên các báo chí và đã in trong cuốn sách “Người Việt Nam ở nước ngoài” do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản tại Hà Nội năm 1997. Đó là bảng ghi số lượng kiều dân VN ở nước ngoài giữa thập niên 90 của thế kỷ trước. 


Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng gặp gỡ cộng đồng người VN
đang làm việc, học tập và sinh sống tại CH Séc, ngày 13/9/2007
 

Sau 10 năm, đương nhiên những con số trong bảng ghi đó đã thay đổi. Bảng ghi dưới đây là kết quả tổng hợp các nguồn số liệu mà chúng tôi nhận được từ đầu năm 2004 đến đầu năm 2005. Các số liệu này được lập sóng đôi với các số liệu của bảng ghi 1994-1995 để phục vụ cho việc tham khảo, so sánh.

SỐ LƯỢNG VÀ SỰ PHÂN BỐ KIỀU DÂN VIỆT NAM
TRÊN THẾ GIỚI TẠI THỜI ĐIỂM 2004-2005


 Stt

Tên nước hoặc

vùng lãnh thổ

Số kiều dân VN 1994-1995

Chiều hướng tăng, giảm

Số kiều dân VN 2004-2005

1     

Hoa Kỳ

950.000

­

1.300.000

2     

Pháp

400.000

¯

300.000

3     

Úc

160.000

­

250.000

4     

Canada

150.000

­

200.000

5     

Trung Quốc

300.000

¯

180.000

6     

Campuchia

100.000

­

130.000

7     

Đài Loan

15.000

­

120.000

8     

Thái Lan

120.000

¯

110.000

9     

Đức

100.000

=

100.000

10 

Nga

100.000

=

100.000

11 

Anh

25.000

­

40.000

12 

Czech

18.000

­

35.000

13 

Lào

10.000

­

35.000

14 

Ba Lan

30.000

¯

25.000

15 

Na Uy

2.000

­

17.000

16 

Hà Lan

10.000

­

15.000

17 

Bỉ

7.000

­

12.000

18 

Đan Mạch

5.000

­

11.500

19 

Thụy Điển

2.000

­

10.000

20 

Nhật Bản

6.000

­

10.000

21 

Hàn Quốc

5.000

­

9.500

22 

Ukraina

10.000

¯

8.000

23 

Guyana

-

-

8.000

24 

Thụy Sỹ

5.000

­

6.500

25 

Phần Lan

1.000

­

6.000

26 

Philippin

5.000

=

5.000

27 

New Caledonia

-

-

5.000

28 

Macau

4.500

­

4.579

29 

Ý

2.000

­

3.000

30 

Hunggari

5.000

¯

3.000

31 

Áo

3.000

=

3.000

32 

New Zealand

300

­

2.412

33 

Hong Kong

50.000

¯

2.000

34 

Slovakia

 

-

2.000

35 

Bulgaria

2.500

¯

1.000

36 

Iceland

-

-

1.000

37 

Tây Ban Nha

2.000

¯

1.000

38 

Angola

-

-

800

39 

Vanuatu

-

-

400

40 

Ireland

500

¯

350

41 

Rumani

1.000

¯

300

42 

Malaysia

1.200

¯

300

43 

Ấn Độ

2.000

¯

260

44 

Cote d’Ivoire

-

-

253

45 

Belarus

-

-

250

46 

Litva

400

¯

250

47 

Albani

2.000

¯

200

48 

Guyana thuộc Pháp

-

-

200

49 

Thổ Nhĩ Kỳ

2.000

¯

200

50 

Mexico

2.000

¯

200

51 

Triều Tiên

2.000

¯

200

52 

Singapore

2.000

¯

160

53 

Indonesia

5.000

¯

160

54 

Algeria

1.000

¯

110

55 

Luxembourg

500

¯

100

56 

Moldova

-

-

100

57 

Uzbekistan

-

-

100

58 

Brazil

1.000

¯

100

59 

Bồ Đào Nha

1.000

¯

100

60 

Marocco

500

¯

100

61 

Iraq

1.000

¯

100

62 

Madagascar

-

-

100

63 

Nam Tư (cũ)

1.000

¯

100

64 

Myanmar

500

¯

80

65 

Argentina

500

¯

80

66 

Saudi Arabia

1.000

¯

57

67 

Iran

1.000

¯

53

68 

Kenya

200

¯

51

69 

Chile

500

¯

50

70 

Kazakhstan

-

-

50

71 

Bangladesh

500

¯

50

72 

Peru

500

¯

50

73 

Lebanon

-

-

40

74 

Israel

200

¯

40

75 

Turkmenistan

-

-

39

76 

Mông Cổ

500

¯

35

77 

Vatican

50

¯

30

78 

Estonia

300

¯

30

79 

Papua New Guinea

300